Hiển thị các bài đăng có nhãn Uncategorized. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Uncategorized. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Ba, 19 tháng 5, 2009

Thơ hay

Bài hát trong phim Tam Quốc, đọc lên nghe như một bài thơ. Hay quá, đọc xong vừa buồn buồn vừa thấy đầy cảm khái.

Trường Giang cuồn cuộn chảy về Đông

Bạc đầu ngọn sóng cuốn anh hùng

Thị phi thành bại theo dòng nước

Sừng sững cơ đồ bỗng tay không

Núi xanh nguyên vẻ cũ

Bao độ ánh chiều hồng

Bạn ngư tiều dãi dầu trên bãi

Vốn đã quen gió mát trăng trong

Một vò rượu nếp vui gặp gỡ

Chuyện đời tan trong chén rượu nồng

Đã mờ rồi ánh kiếm, ánh đao

Lùi xa rồi tiếng loa, tiếng trống

Vẫn rõ ràng sống động

Bao gương mặt anh hùng

Con đường xưa ngập trong cát bụi

Thành quách xưa hóa cảnh hoang tàn

Năm tháng oai hùng thành lịch sử

Bao chiến công, tên tuổi còn vang

Mộng bá vương ai người quyết định

Lẽ thịnh suy há chẳng có nguyên nhân

Sự đời vần vũ như mây gió

Đổi thời gian, đổi cả không gian

Tụ tán nhờ có duyên

Ly hợp vốn do tình

Trả món nợ non sông trước mắt

Mặc đời sau thiên hạ luận bình

Nước Trường Giang hóa thành sông lệ

Gió Trường Giang vang mãi bài ca

Giữa bầu trời lịch sử

Muôn triệu ánh sao sa.

Trong dân gian vạn thưở

Ấy muôn triệu đóa hoa

Đã mờ rồi ánh kiếm ánh đao

Lùi xa rồi tiếng loa tiếng trống

Vẫn rõ ràng sống động bao gương mặt anh hùng

Con đường xưa ngập trong cát bụi

Thành quách xưa hóa cảnh hoang tàn

Năm tháng oai hùng thành lịch sử

Bao chiến công tên tuổi còn vang

Mộng bá vương ai người quyết định

Lẽ thịnh suy há chẳng có nguyên nhân

Sự đời gần gũi như mây gió

Đổi thời gian đổi cả ko gian

Tụ tán nhờ có duyên ly hợp vốn do tình

Trả món nợ non sông trước mắt

Mặc đời sau thiên hạ luân bình

Nước Trường Giang hóa thành sông bể

Gió Trường Giang vang mãi bài ca

Giữa bầu trời lịch sử muôn triệu ánh sao xa

Trong dân gian vạn thủa ấy muôn triệu đóa hoa

Thứ Tư, 13 tháng 5, 2009

Elusive Quest For Growth




Chờ cuốn này mãi mới ra, rút ra được nhiều ý mới sau khi đọc cuốn này

http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/sachhaynendoc/6925/index.aspx

Có hay không “thần dược” cho tăng trưởng kinh tế?

Trong cuốn “Truy tìm căn nguyên tăng trưởng”, tác giả William Easterly đã tự trao cho mình sự mệnh rà soát lại hành trình đi tìm thần dược tăng trưởng kinh tế của các nhà kinh tế học. Nhiều kết luận hữu ích đã được khai mở từ hành trình đó.

4 năm trước, Việt Nam xôn xao chuyện cơ hội của Thánh Gióng, làm thế nào tập hợp sức mạnh dân tộc để đẩy tốc nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế, sớm biến Việt Nam thành cường quốc. Giờ đây, không thấy ai nói tới những chuyện “thần kỳ” như vậy nữa.

Sự thực là sự thần kỳ cũng đã diễn ra ở nhiều quốc gia Đông Á. Những vùng đất xưa là cánh đồng lúa, khu ổ chuột chỉ sau 15, 20 năm phát triển bỗng trở thành những khu cao ốc chọc trời như khu Phố Đông ở Thượng Hải. Tuy nhiên, điều tương tự đã không diễn ra ở đa số các quốc gia đang phát triển ở nhiều châu lục khác.

Việt Nam cũng được liệt vào danh sách các quốc gia có tốc độ tăng trưởng khá cao sau hơn 20 năm đổi mới. Nhưng chất lượng, chiều sâu và độ bền vững của tăng trưởng lại bị nghi ngờ. Sự phát triển dựa vào tăng vốn đầu tư và lao động giản đơn hơn là tăng năng suất nhờ cải tiến công nghệ.

Để tăng trưởng với số lượng và chất lượng tốt hơn, vẫn nghe nhiều quan chức, học giả lên tiếng đại loại như: chúng ta cần sử dụng hiệu quả hơn nữa viện trợ phát triển chính thức ODA, chúng ta phải thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư nước ngoài FDI, chúng ta nhất định phải phát triển nền giáo dục, chúng ta nhất thiết phải coi đầu tư vào khoa học công nghệ là ưu tiên hàng đầu…

Rất nhiều “cần”, “phải”, “nhất thiết”, “nhất định”. Rất nhiều “mệnh lệnh” đã được đưa ra nhưng vốn ODA vẫn bị xà xẻo, FDI vẫn chậm giải ngân, giáo dục và công nghệ vẫn chậm được cải thiện. Mệnh lệnh, hô hào, khẩu hiệu càng nhiều thì hiệu quả càng ít, xưa nay vẫn vậy…

Câu chuyện trên không chỉ diễn ra ở Việt Nam mà ở rất nhiều quốc gia khác. Các kế hoạch, chính sách, khuyến nghị phát triển… hoặc không được thực thi, hoặc được thực thi thì cũng không mang lại hiệu quả mong muốn trong thực tiễn.

Tại sao lại như vậy? Nhà kinh tế học William Easterly trả lời trong cuốn “Truy tìm căn nguyên tăng trưởng”.

Con người hành động vì động cơ

William là từng là chuyên gia của Ngân hàng thế giới (WB) về viện trợ và phát triển cho các nước thế giới thứ 3. Hơn 15 năm làm việc ở WB, ông có điều kiện khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố vẫn được coi là “thần dược” cho tăng trưởng kinh tế như: viện trợ, đầu tư, giáo dục, giảm dân số, xóa nợ…

Kết quả khảo sát của William Easterly khá bất ngờ: các thần dược trên không hoàn toàn có mối tương quan tỉ lệ thuận với tăng trưởng. Ở rất nhiều quốc gia, các yếu tố trên thì có nhưng tăng trưởng thì không.

William lý giải thực tế trên bằng một nguyên tắc cơ bản trong kinh tế học: Con người ai cũng hành động vì động cơ.

Để cho dễ hiểu, hãy thử hình dung trong một doanh nghiệp nhà nước có một ông giám đốc lo cho việc công thì ít mà tìm cách tư túi thì nhiều. Sử dụng vốn nhà nước và lại ít bị kiểm soát, ông này không có động cơ phải kinh doanh hiệu quả nên sẽ mặc sức lãng phí, tham nhũng. Nhân viên công ty cũng dễ có xu hướng hành động theo kiểu “biến tài nguyên công ty thành tài sản cá nhân”.

Trong tình huống này, nhà nước tiếp tục rót thêm tiền để công ty đầu tư vào máy móc, thiết bị cũng không mang lại hiệu quả vì đơn giản, toàn bộ công ty không có động cơ để kinh doanh hiệu quả. Có tìm cách giáo dục đào tạo nhân viên cũng chẳng ích gì bởi nhân viên không có động cơ phải học để nâng cao trình độ chuyên môn. Nếu mang phong bì đến nhà sếp dễ được đề bạt hơn có năng lực thật thì không ai cảm thấy được khuyến khích phải phát triển năng lực cả.

Công ty vay ngân hàng quá nhiều tới mức không có khả năng chi trả, nhà nước tìm cách xóa nợ hay cho vay lãi suất thấp để công ty có điều kiện vực lại. Nhưng các giải pháp trên cũng chỉ mang tính tình thế, công ty thiếu động cơ để phát triển lại càng được thể, tiếp tục vay vốn ưu đãi để thực hiện những dự án hiệu quả thấp, thất thoát cao.

Tóm lại, mọi nỗ lực đầu tư, viện trợ, xóa nợ, giáo dục mà nhà nước ưu đãi cho công ty trên đều vô nghĩa. Các thần dược trên không thể thúc đẩy tăng trưởng khi mà bản thân công ty và những người lãnh đạo vô trách nhiệm của nó không có động lực tự nhân phải tăng trưởng.

Điều tương tự cũng diễn ra ở cấp độ quốc gia với một chính phủ vô trách nhiệm, mọi thần dược giúp các nước này phát triển cũng “như muối bỏ bể”. William Easterly lý giải: “Tăng thêm máy móc sẽ trở thành vô ích khi thiếu động lực phát triển. Có thể máy móc sẽ tạo ra những sản phẩm không ai mong muốn hoặc máy móc thì có nhưng những yếu tố sản xuất đầu vào thì lại không” hoặc “nếu không có động cơ đề đầu tư cho tương lai thì việc mở rộng giáo dục chẳng còn mấy giá trị. Cho dù bạn bị buộc phải đến trường thì điều đó cũng không làm thay đổi động cơ để bạn đầu tư vào tương lai. Ở một đất nước mà hoạt động duy nhất đem lại lợi nhuận là vận động hành lang để tìm kiếm ân huệ thì tạo ra những lao động có tay nghề cao không phải là chìa khóa của thành công.”

Một chính phủ không bị kiểm soát và cân bằng bởi các lực lượng khác trong xã hội sẽ rất dễ dẫn tới tình trạng vô trách nhiệm. Chính phủ đó có thể bóp chết tăng trưởng bằng cách dễ dàng nhất là triệt tiêu, kìm hãm động cơ. William chỉ ra trong cuốn sách nhiều dạng thức qua đó chính phủ trực tiếp hay gián tiếp kìm hãm động cơ của xã hội từ tham nhũng, lạm phát, thâm hụt ngân sách tới duy trì tỉ giá chợ đen cao… Khi đó, các nỗ lực phát triển đều dậm chân tại chỗ.

Có hay không có “thần dược”?

Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới từ năm 1986. Đó có thể coi là cuộc giải phóng động cơ lớn lao. Chấp nhận quyền tự do sở hữu tư nhân, tự do kinh doanh đã khiến cho mỗi cá nhân tìm thấy động cơ làm giàu, động cơ phát triển. Mức tăng trưởng khá cao trong hơn 20 năm đổi mới vừa qua là kết quả của cuộc giải phóng động cơ đó.

Dù vậy, giải phóng động cơ là cần thiết nhưng chưa đủ. Còn cần làm nhiều hơn thế để biến những khu ổ chuột thành cao ốc. Ngay cả khi không bị kìm hãm bởi chính phủ thì cũng không có gì đảm bảo rằng những người dân ở các quốc gia nghèo có được động lực và khuyến khích cần thiết để vươn lên mạnh mẽ hơn. Họ vẫn có xu hướng quẩn quanh trong vòng tròn tiêu cực của thiếu kỳ vọng, niềm tin và nỗ lực.

Việt Nam cũng đang ở ngưỡng loay hoay tìm một con đường phát triển khác với kiểu tăng trưởng theo chiều rộng như hiện nay. Nhiều học giả đã đề cập tới sự cần thiết của một cuộc đổi mới 2, thay đổi căn bản để quá trình phát triển có được bước ngoặt, chất lượng và bền vững hơn. Nhưng thực hiện điều đó trên tư tưởng nào? William Easterly đã rút ra được một số kết luận có giá trị.

Cuốn sách không đưa ra một công thức hay “thần dược” nào cụ thể, nhưng những người làm chính sách ở Việt Nam có thể tìm thấy nhiều gợi mở và khuyến nghị quan trọng cho quá trình đổi mới tiếp theo.

Khánh Duy

Con số kỳ lạ của Tàu




Sáng nay, tôi đọc báo thấy cái ảnh trên. Tượng đá ghi lại thời gian thảm họa của trận động đất Tứ Xuyên năm ngoái khiến hơn 80.000 người Trung Quốc thiệt mạng. Mọi người để ý con số 5121428

Tôi vừa đi vi hành Tàu về, mới nghe kể chuyện về con số thời gian kỳ lạ trên.

Sau khi động đất năm ngoái, một nhà nghiên cứu phong thủy nổi tiếng ở Trung Quốc đã nói rằng con số 51 21 4 28 đó sẽ trở thành con số may mắn của Trung Quốc.

Sau đó, Olympic Bắc Kinh diễn ra, hãy nhìn vào bảng Tổng sắp huy chương của Trung Quốc

XH

Quốc gia

V

B

Đ

TC

1

Trung Quốc

51

21

28

100

2

Mỹ

36

38

36

110

3

Nga

23

21

28

72

4

Anh

19

13

15

47

5

Đức

16

10

15

41

71
Việt Nam
0
1
0
1

Trung Quốc đã đạt 51 Huy chương Vàng, 21 Huy Chương Bạc, 28 Huy Chương Đồng.

Hương hồn 80 000 người dân thiệt mạng đã linh thiêng ủng hộ Trung Quốc đứng nhất Olympic chăng?

Thứ Tư, 22 tháng 4, 2009

Hiệu ứng Hào quang

http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/sachhaynendoc/6713/index.aspx

Công thức thành công hay những ảo tưởng ngờ nghệch?

Đối với những ai còn đang lâng lâng tâm đắc với những bí quyết thành công được viết ra trong những cuốn sách kinh doanh nhan nhản hiện nay thì có lẽ Hiệu ứng Hào quang của giáo sư Phil Rosenzweig là một gáo nước lạnh. Gáo nước không thèm đổ vào những cuốn sách thông thường mà ụp xuống đầu những “quả bom tấm” đang được giới CEO ca ngợi nhiệt liệt.

Kẻ phá bĩnh

Steve Balmer, thủ lĩnh của Microsoft nói rằng ông gối đầu giường cuốn sách “Từ tốt đến Vĩ đại” của tác giả Jim Collins. Không chỉ Balmer, CEO khắp nơi trên thế giới tìm đọc cuốn sách của Jim Collins để tìm hiểu “công thức” xây dựng một công ty vĩ đại. Cuốn này cùng với cuốn “Xây dựng để trường tồn” của Collins đều đã được dịch ra tiếng Việt. Có lẽ đó là hai cuốn sách kinh doanh được các giám đốc ở Việt Nam đọc và bán tán nhiều nhất.

Trong khi thế giới đang tung hô Jim Collins diễn thuyết trên bục thì có một người lại ném lên đó “một chiếc giầy”. Kẻ phá bĩnh đó là Phil Rosenzweig, giáo sư Viện Phát triển quản lý quốc tế (IMD); và chiếc giày đó là cuốn “Hiệu ứng Hào quang”.

Không chỉ Jim Collins, chiếc giầy còn được ném về phía nhiều tác giả khác là các giáo sư quản trị kinh doanh, các nhà nghiên cứu quản trị cũng như một số tác giả sách bán chạy nhất trong lĩnh vực quản trị doanh nghiệp. Một mũi tên bắn nhiều con chim, Phil Rosenzweig đã nhập vai một người “chọc gậy bánh xe” hoàn hảo khi phê phán tất cả các thể loại công thức thành công chỉ là những ảo vọng.

“Cô gái” khác… “bà già”

“Điểm khác biệt giữa một quý bà và một cô gái không phải ở cách xử thế của họ, mà ở cách họ được đối xử như thế nào.” Rosenzweig trích dẫn câu nói dí dỏm của Bernard Shaw trong cuốn sách.

Đàn ông vây quanh, nhìn ngắm, ngưỡng mộ những cô gái trẻ đẹp, chẳng ai làm thế với một bà già. Tất nhiên rồi, với các công ty cũng thế, báo chí tôn vinh, ca ngợi các công ty thành công và CEO của nó lên tận mây xanh. Còn những công ty thất bại thì đương nhiên chẳng ma nào đoái hoài tới.

Công ty thành công nào mà chẳng được ngợi ca rằng có những giám đốc táo bạo, mạnh mẽ, sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm, dám nghĩ dám làm, có tầm nhìn vượt trội, liêm chính, sẵn sàng hi sinh sự phát triển của công ty…

Công ty thành công nào chẳng được suy tôn rằng có những chiến lược tập trung, kiên định, thực tế; một nền văn hóa khuyến khích sáng tạo, một hệ thống nhân sự luôn cam kết vì sự hoàn hảo…

Khí một công ty đang ở đỉnh vinh quang, báo chí, nhân viên, đối tác, khách hàng thi nhau “bốc thơm” họ. Phil Rosenzweig gọi đó là Hiệu ứng hào quang. Chúng ta luôn nhìn thấy quanh những vì sao là một vầng hào quang lấp lánh.

Một số cuốn sách kinh doanh bán chạy nhất hiện nay đều dựa trên dữ liệu nghiên cứu là hàng ngàn bài báo viết về các công ty thành công, cũng như thực hiện hàng trăm cuộc phỏng vấn đối với nhân viên, đối tác của họ. Theo Phil Rosenzweig, người viết sách không thể thu được kết quả chính xác từ những dữ liệu đó bởi tất cả sẽ chỉ là hào quang.

Rosenzweig đưa ra hai ví dụ nghiên cứu là công ty Cisco và công ty ABB. Khi ở trên đỉnh thành công, họ được báo giới và doanh giới ca ngợi như trên. Đến khi hai công ty này xuống dốc, những giám đốc táo bạo ngày nào bỗng bị chê là liều lĩnh, những giám đốc liêm chính ngày nào bỗng biến thành những kẻ tham tiền.

Còn những chiến lược trước đây được khen ngợi là tập trung nay bị gọi là bảo thủ, nền văn hóa công ty trước được coi là gắn kết thì nay bỗng bị phê bằng những từ ngữ nặng nề nhất. Câu chuyện cổ tích thế là tan vỡ…

Phil Rosenzweig cho rằng đa số những cuốn sách tuyên bố đưa ra những bản thiết kế để xây dựng công ty thành công đều chỉ là những câu chuyện cổ tích. Tác giả của nó là người giỏi kể chuyện chứ không phải nhà nghiên cứu khoa học bởi tất cả những dữ liệu đều không mang tính chính xác của khoa học do bị che mờ bởi hiệu ứng hào quang.

Người đọc tất nhiên khoan khoái khi nghe những câu chuyện cổ tích thú vị, họ mơ màng nhìn lên bầu trời đầy sao và tưởng tượng ra vẻ đẹp lung linh của nó. Những tất cả chỉ là ảo tưởng, những vì sao lấp lánh hào quang kia khi đến gần cũng chỉ là lớp đất đá xù xì…

Thầy bói xem voi

Hiệu ứng hào quang chỉ là một trong số nhiều ảo tưởng mà các nhà nghiên cứu kinh doanh mắc phải. Rosenzweig đã chỉ ra tới 8 ảo tưởng khác làm mờ mắt các nhà nghiên cứu, biến họ thành những ông thầy bói xem voi hơn là nhà khoa học.

Một ảo tưởng thú vị khác mà Rosenzweig gọi là ảo tưởng về sự tương quan và quan hệ nhân quả. Ví dụ như một nhà nghiên cứu có thể đưa ra mệnh đề: Đào tạo nguồn nhân lực mạnh là yếu tố then chốt tạo ra thành công của một công ty. Ông ta sẽ liên tục tìm ra mọi dẫn chứng và số liệu để chứng minh cho mệnh đề của mình.

Một bài báo hay thậm chí cả cuốn sách có thể ra đời từ chỉ một mệnh đề đó và đương nhiên, người đọc sẽ bị thuyết phục bởi chất chồng những nghiên cứu tình huống và số liệu thực tế mà nhà nghiên cứu đưa ra. Tuy vậy, cả nhà nghiên cứu và người đọc đều quên một điều: Đào tạo nguồn nhân lực và thành công có mối quan hệ tương quan chứ không hẳn là nhân quả của nhau.

Đúng là đào tạo nguồn nhân lực mạnh có thể sẽ khiến một công ty có nền tảng tốt hơn để phát triển nhưng cũng có thể nhờ công ty phát triển nên mới có tiền nhiều để đào tạo nguồn nhân lực. Hai yếu tố này tương quan với nhau theo kiểu con gà quả trứng, rất khó để minh định xem cái gì tác động tạo ra cái gì. Vội vã kết luận rằng đào tạo nguồn nhân lực là chìa khóa của thành công là một sự nông nổi.

Còn hơn thế, nguồn nhân lực chỉ là một yếu tố trong vô vàn yếu tố có khả năng tác động tới hiệu quả công ty. Rosenzweig đưa ra những ví dụ từ nghiên cứu của các đồng nghiệp. Người cho rằng định hướng thị trường đóng góp 25% thành công của công ty, kẻ tuyên bố trách nhiêm xã hội tập thể (CRS) đóng góp tới 40% hiệu quả công ty. Một nghiên cứu khác thì đương nhiên kết luận quản trị nguồn nhân lực góp 5% trong tăng trưởng doanh thu và vai trò của giám đốc góp 15%. Cộng gộp lại thì có lẽ chỉ 4 yếu tố đó đã chiếm mất 85%.

Thế còn vô thiên lủng những khía cạnh khác từ: văn hóa công ty, chiến lược cạnh tranh, năng lực tài chính…. thì sẽ đóng góp bao nhiêu phần trăm nữa??? Chỉ một ví dụ đó, Rosenzweig đã cho thấy tính phiến diện của các nghiên cứu, mỗi nghiên cứu chỉ nhìn nhận một yếu tố trong khi thực chất các yếu tố đan xen vào nhau tới mức không thể xác minh rõ ràng chúng tác động tới nhau và tới kết quả chung như thế nào.

Tác giả gọi đó là ảo tưởng bởi những giải thích phiến diện. Mỗi nhà nghiên cứu như một ông thầy bói sờ một con voi và vội vã tuyên bố phát minh của mình. Ngay cả khi mỗi nghiên cứu đơn lẻ được tập hợp thành một bản thiết kế tổng thể thì cũng vẫn còn quá nhiều yếu tố bị bỏ sót. Thực hiện theo những thiết kế đó không bao giờ đảm bảo thành công.

Chuyện thành công hay chuyện cổ tích?

Rosenzweig dẫn lại một nghiên cứu của Michael Porter. Giáo sư chiến lược của Harvard đã nghiên cứu hàng ngàn công ty từ năm 1984 đến 1994 và kết luận rằng những yếu tố riêng biệt nội bộ đó chỉ đóng góp có… 32% cho hoạt động chung. Thế thì 68% còn lại thuộc về cái gì? Nó thuộc về những yếu tố bên ngoài từ bản chất của ngành kinh doanh, quan hệ hợp tác, may mắn và thậm chí là những yếu tố… chưa biết.

Trong môi trường kinh doanh bất định, liên tục bị tác động bởi những yếu tố bên ngoài như đối thủ cạnh tranh, sự thay đổi công nghệ, chính sách vĩ mô… việc vẽ ra một sơ đồ đi tới thành công là một ảo tưởng lớn. Và ngay cả việc nghĩ rằng sẽ có được những công ty thành công vĩ đại và trường tồn trong thế giới kinh doanh này cũng là một ảo tưởng nốt.

Tất cả những điều đó chỉ là những câu chuyện cổ tích lấp lánh ánh hào quang nơi có một chàng hoàng tử tức giám đốc nào đó “biết cách nắm giữ những giá trị quan trọng, vạch ra một tầm nhìn tươi sáng, quan tâm tới nhân viên, tập trung vào khách hàng và phấn đấu cho sự hoàn hảo…”.

Rosenzweig nói rằng ông đánh giá cao những giá trị và lý tưởng đó trong các cuốn sách quản trị nổi bật hiện nay. Đi theo những con đường đó không có gì xấu cả, nếu không muốn nói rằng tốt. Nhưng sẽ không có gì đảm bảo rằng đó là con đường dẫn câu chuyện tới kết thúc có hậu. Chàng hoàng tử có tìm thấy công chúa của mình hay không còn phụ thuộc vào nhiều điều khác.

Thứ Năm, 5 tháng 3, 2009

Thông tin và sự minh bạch




http://www.tuanvietnam.net/vn/tulieusuyngam/6285/index.aspx

Thông tin và sự minh bạch

Theo lý thuyết về thông tin hiện đại, thông tin là thứ tài sản “công cộng”. Người dân đóng thuế để chính phủ thu thập và cung cấp thông tin. Đương nhiên, đã là “công cộng” thì thông tin phải được công khai minh bạch cho tất cả dân chúng được biết.

Thông tin về việc sử dụng Gói kích cầu tiêu dùng đầu tư của chính phủ không nằm ngoài lý thuyết trên. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có những chỉ đạo theo đúng tinh thần đó trong phiên họp thường kỳ của Chính phủ vừa qua: việc triển khai gói kích cầu phải được thực hiện công khai, minh bạch. Chính phủ sẽ phải có biện pháp chủ động kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ để ngăn ngừa hành vi trục lợi.

Tại sao phải thực hiện công khai minh bạch Gói kích cầu này theo như chỉ đạo của Thủ tướng? Và nên công khai minh bạch như thế nào là những câu hỏi cần làm rõ.

“Ánh nắng là chất khử trùng mạnh nhất”

Đó là hình ảnh mà nhà kinh tế đoạt giải Nobel năm 2001 Joseph Stiglitz sử dụng để nói về vai trò của sự minh bạch thông tin. Kinh tế gia này đã đoạt giải Nobel nhờ công trình nghiên cứu về sự bất đối xứng thông tin. Ông là một trong những người đã phân tích thấu đáo nhất về vai trò của sự minh bạch thông tin đối với tiến bộ xã hội. Những trích dẫn trong ngoặc kép ở phần dưới là từ bài luận nổi tiếng “Sự minh bạch trong chính phủ” của ông.

Theo Stiglitz, giữa nhà quản lý công ty với các cổ đông, giữa nhà cầm quyền với dân chúng luôn có sự bất đối xứng về thông tin. Nhà quản lý công ty hay người cầm quyền đất nước luôn có nhiều thông tin hơn và họ có xu hướng không minh bạch hóa những thông tin đó vì một số lý do.

Thứ nhất, không công khai thông tin “sẽ tạo ra sự cách ly nhất định để khỏi bị buộc tội là sai lầm.” Công khai thông tin nhiều hơn đồng nghĩa với việc người công khai sẽ phải chịu nhiều chỉ trích hơn nếu chính sách đó thất bại. Công chúng có nhiều thông tin càng có nhiều cơ sở để phê phán chính sách. Nỗi sợ bị buộc tội là nguyên nhân của sự che giấu thông tin. Tuy nhiên, theo Stiglitz thì chính phủ cũng như mỗi cá nhân không thể tránh khỏi những sai lầm và “Chấp nhận khả năng mắc sai lầm… sẽ củng cố lòng tin của công chúng vào thể chế, chí ít cũng là qua việc chứng tỏ thể chế đó rất tự tin…”. “Chính phủ nào đối xử một cách trung thực với người dân của mình, sự tin cậy vào chính phủ đó và các tổ chức công sẽ tăng lên.”

Thứ hai, khan hiếm thông tin sẽ làm cho một số nhóm lợi ích được hưởng lợi. Ở một số xã hội đang phát triển, đây chính là nguồn gốc của tham nhũng, hối lộ, lãng phí. Ngay cả ở những nước dân chủ như Hoa Kỳ, các chính trị gia vẫn có xu hướng che giấu thông tin để bảo vệ những nhóm lợi ích đã ủng hộ tiền cho họ trong chiến dịch tranh cử. Nhưng, sự bưng bít thông tin chỉ có lợi đối với một thiểu số trong ngắn hạn, xã hội xét như một tổng thể sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi sự khan hiếm thông tin. Stiglitz khẳng định: “Sự bưng bít là nền móng cho tệ tham nhũng dai dẳng, một tệ nạn làm suy giảm lòng tin vào các chính phủ dân chủ ở nhiều nước trên thế giới.”

Thứ ba, nhiều quốc gia biện minh cho việc không công khai thông tin bằng lý do ổn định. Công khai thông tin có thể tạo ra tâm lý bất an và sự hỗn loạn. Ví dụ như công khai thông tin về tài chính kiệt quệ của một ngân hàng có thể dẫn tới tình trạng rút tiền ồ ạt, gây ra sự hỗn loạn trong tâm lý người dân. Quả là có những tình huống như vậy nhưng theo nhà kinh tế đoạt giả Nobel 2001 thì, những trường hợp đó chỉ là ngoại lệ. Không thể mượn một vài ngoại lệ để phủ nhận tính đúng đắn của việc minh bạch hóa thông tin. Sự ổn định là quan trọng nhưng hiệu quả và phát triển còn quan trọng hơn. Che giấu chỉ làm “méo mó nhãn quan chính trị”, “làm cho khả năng tham gia một cách có ý nghĩa của người dân trở nên khập khiễng”, “làm cho chất lượng ra quyết định suy giảm nhiều hơn.” Tất cả những điều đó ảnh hưởng tới hiệu quả của chính sách.

Những lập luận của Stiglitz đã bẻ gẫy các lý do của việc cố tình che giấu thông tin. Công khai thông tin làm gia tăng mãnh mẽ niềm tin vào chính phủ còn che giấu thì tạo ra hiệu ứng ngược lại. Niềm tin của nhân dân là yếu tố then chốt tạo ra sự ổn định chính trị nên công khai phải là một ưu tiên của chính phủ.

Không phải ngẫu nhiên mà từ hơn 200 năm trước, Thụy Điển có lẽ đã là nước đầu tiên ban hành bộ luật tăng cường sự minh bạch trong lĩnh vực công. Vào năm 1966, nước Mỹ đã thông qua Luật về Tự do Thông tin, theo đó, luật này cho phép “bất kỳ công dân nào cũng có quyền tiếp bận bất kỳ thông tin nào trong lĩnh vực công, trừ một vài ngoại lệ hạn hẹp liên quan đến sự riêng tư…”

Những lập luận trên của Stiglitz càng cho thấy chỉ đạo của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về sự cần thiết phải công khai minh bạch Gói kích cầu là rất đúng đắn. Nhưng câu hỏi quan trọng thứ hai là “nên kiểm tra, kiểm soát như thế nào để tránh trục lợi”? Xem xét bài học của nước Mỹ có thể cho Việt Nam một vài gợi ý.

Công khai Gói Kích thích – Bài học Mỹ

Nước Mỹ đã công khai Gói kích cầu của họ bằng biện pháp rất đơn giản là thiết lập một trang web riêng về Gói kích cầu này. Vào trang web www.recovery.gov mới thấy việc công khai hóa đã được thực hiện một cách đơn giản đến kinh ngạc.

Ngay ở trang chủ là một đoạn video trong đó đích thân đương kim tổng thống Obama nói về sự cần thiết của trang web. Hãy thử nghe ông phát biểu:

“Kích thước và Quy mô của kế hoạch này yêu cầu phải có những nỗ lực chưa có tiền lệ để loại trừ lãng phí cũng như những khoản chi thiếu hiệu quả và không cần thiết. Trang recovery.gov này là một cổng thông tin online nằm trong nỗ lực đó. Trang này sẽ xuất bản các thông tin cho mọi người biết số tiền đã thông qua sẽ được chi tiêu đúng thời điểm, đúng mục tiêu và minh bạch. Thay vì để cho các chính trị gia phân phát số tiền đó đằng sau những cánh cửa đóng, từng đồng đôla đầu tư từ tiền thuế của các bạn sẽ được chính các bạn kiểm soát. Bất kỳ khi nào đồng tiền bắt đầu được chi tiêu, người dân sẽ được thấy nó được chi như thế nào, khi nào và ở đâu.”

Việc ông Obama đích thân đứng ra tuyên bố và quảng bá cho trang mạng này là một chiến lược chính trị thú vị, chắc chắn sẽ rất được lòng dân. Còn nhiều điểm thú vị khác khi nghiên cứu trang mạng này của Mỹ. Trang này có riêng một phần để cho người dân có thể chia sẻ những tâm sự về ảnh hưởng của Gói kích thích này đối với cá nhân họ. Hãy xem lời mào đầu của chính phủ với dân chúng:

“Chúng tôi muốn biết cuộc khủng hoảng này và chương trình kích thích này sẽ tác động thế nào tới bạn? Bạn là chủ doanh nghiệp, chúng có tác động tới tư duy kinh doanh và các quyết định cá nhân của bạn không? Bạn là sinh viên, chúng có tác động tới các quyết định lựa chọn học hành của bạn không? Bạn là người đang tìm việc, công việc tìm kiếm ấy thay đổi như thế nào?”

Ngoài ra, người dân ở mỗi bang có thể biết số tiền đang được chi tiêu ở bang họ như thế nào. Vào phần riêng của từng bang lại thấy các thông điệp từ các thống đốc mỗi bang. Có lẽ thấu hiểu thực tế bộ máy công quyền là nơi dễ xẩy ra tham nhũng lãng phí nhất, trang mạng này còn có hẳn một phần riêng biệt cho dân chúng biết mỗi cơ quan công quyền sử dụng Gói kích thích này như thế nào.

Mục tiêu chung, khung thời gian và những chi tiết cụ thể của Gói kích thích ở cấp độ quốc gia cũng như từng đơn vị nhỏ đều được minh bạch hóa một cách trong sáng, đơn giản và rất dễ tiếp cận.

Recovery.gov đã cho thấy nỗ lực của chính quyền Mỹ trong việc công khai hóa thông tin bằng công nghệ thông minh. Hơn thế, nó còn cho thấy sự thông minh chính trị của chính quyền Obama. Không có gì ngạc nhiên khi Obama đang nhận được tỉ lệ ủng hộ cao nhất từ trước tới nay theo một số cuộc thăm dò dư luận gần đây.


Ông Obama có lẽ hơn ai hết thấu hiểu tinh thần mà một trong những người cha của nước Mỹ là James Madison đã từng rút ra: “Một chính phủ của nhân dân mà không có thông tin đại chúng hoặc phương tiện để có được những thông tin đó, thì chính phủ đó chẳng là gì khác hơn sự mở màn của một tấn hài kịch hoặc bi kịch, hoặc cả hai”…

Khánh Duy

Thứ Bảy, 28 tháng 2, 2009

Made to Stick




Ai làm báo, làm giảng viên, làm marketing nên đọc cuốn này. Tôi quảng bá không công cho NXB Trẻ.

http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/sachhaynendoc/6209/index.aspx

Xếp hạng 1 trong 10 cuốn sách kinh doanh hay nhất năm 2007

Theo báo Canada and Mail

Xếp hạng 2 trong số 10 cuốn sách kinh doanh hay nhất năm 2007

Theo các Biên tập viên amazon.com

Xếp hạng 26 trong 100 cuốn sách được yêu thích nhất năm 2007

Theo bình chọn của độc giả amazon.com

Sách kinh doanh hay nhất năm 2007

Theo tờ Miami Herald

Cuốn sách nên đọc trong năm 2007

Theo tạp chí Ad Age

10 cuốn sách sáng tạo nhất trong năm 2008

Theo Business Week

Làm thế nào để thông điệp “kết dính”?

Là một người viết, bạn muốn những bài viết của mình được nhiều người đọc. Là một giảng viên, bạn muốn những bài giảng của mình được đông đảo sinh viên thẩu hiểu. Là một nhà doanh nghiệp, bạn muốn thông điệp quảng bá sản phẩm của công ty mình đến được với công chúng. Cuốn sách nổi tiếng Made to Stick (Tạo ra thông điệp kết dính) của Dan Health và Chip Health cung cấp cho người đọc các công cụ để thực hiện những mong muốn đó.

Trên những giảng đường, bạn thường thấy vô số sinh viên ngủ gật vì những bài giảng chán ngắt của thầy cô. Thực tế đáng buồn là đa số giảng viên không biết dạy cho dù kiến thức, bằng cấp của họ có cao siêu đến đâu.

Trên mặt báo, chỉ có một số ít bài bạn đọc hết, số còn lại bạn chỉ lướt qua cái tít. Một trong những lý do là quá nhiều bài báo được viết dài dòng, thiếu rõ ràng và buồn tẻ. Không phải cứ có thẻ nhà báo là viết được một bài báo hay.

Trên thị trường, hàng ngày, bạn nhận được vô số những thông điệp quảng cáo. Nhưng đa số đi vào ở tai này và lại đi ra ở tai kia của bạn. Bạn không có ấn tượng gì về những thông điệp đó một phần bởi những người có bằng MBA chưa chắc đã biết cách làm tiếp thị.

Mỗi chúng ta, trong suốt cuộc đời mình, luôn cần phải truyền đạt các ý tưởng, thông điệp đến những người khác. Nhưng tiếc là, đa sô chúng ta gần như không biết cách làm thế nào để những thông điệp ấy thật sự được người khác ghi nhớ, khắc sâu. Hay nói theo cách của hai tác giả cuốn Made to Stick thì, chúng ta không biết cách làm cho các thông điệp của mình “kết dính” với người nghe.

Tại sao lại xảy ra hiện tượng đó và làm thế nào để có được sự kết dính như vậy? Cuốn Made to Stick trả lời những câu hỏi cực kỳ lý thú và hữu ích đó.

Ông nói gà, bà hiểu vịt

Ngay phần mở đầu cuốn sách, giáo sư kinh tế học hành vi của trường Stanford Chip Health và nhà tư vấn giáo dục Dan Health đã mô tả một trò chơi thú vị. Trò chơi có tên Người gõ nhịp và Người nghe.

Trò chơi này được thực hiện vào năm 1990 và kết luận của nó đã mang lại bằng tiến sỹ tâm lý học tại Stanford cho nghiên cứu sinh Elizabeth Newton. Trong trò chơi này, người gõ nhịp được nhận danh sách 25 bài hát có giai điệu đơn giản và quen thuộc ví dụ bài “Happy birthday to you”. Sau đó, người gõ nhịp phải chọn một trong số đó, rồi gõ nhịp cho người nghe (gõ tay vào bàn). Nhiệm vụ của người nghe là căn cứ vào nhịp gõ để đoán xem đó là bài hát gì.

Trong suốt cuộc thí nghiệm, có 120 bài hát được gõ nhưng chỉ có 3 bài được đoán đúng, tỉ lệ ở đây là 2,5%. Chuyện đoán bài hát qua nhịp gõ đương nhiên là khó khăn nên tỉ lệ này thấp cũng không quá bất ngờ.

Nhưng điểm bất ngờ là ở chỗ, trước khi tiến hành thí nghiệm, Newton đã hỏi người gõ nhịp là: “Anh/chị nghĩ khả năng người nghe đoán đúng là bao nhiêu phần trăm?”. Câu trả lời của họ là 50%, mức chênh lệch gấp 20 lần kết quả thực tế.

Kết luận ở đây rõ ràng, người chủ động gõ nhịp không thật sự thấu hiểu sự khó khăn và bị động của người nghe. Họ có giai điệu trong đầu và nghĩ rằng việc luận ra giai điệu quen thuộc đó quá đơn giản. Họ không đặt mình vào địa vị của người nghe nên đương nhiên, họ ảo tưởng về khả năng người nghe nắm bắt được nhịp gõ của họ.

Mỗi chúng ta khi truyền đạt một ý tưởng nào đó cũng không khác gì người đi gõ nhịp kia. Chúng ta nói theo cách của mình và nghĩ rằng người nghe cũng hiểu rõ điều chúng ta hiểu. Chúng ta không đặt mình vào địa vị của họ để thấy rằng khoảng cách giữa người nói và người nghe là quá lớn. Người nói có nhiều kiến thức về đề tài đang nói còn đa số người nghe thì không hẳn đã thế.

Vậy nên, chuyện “ông nói gà, bà hiểu vịt”, “nói ít hiểu ít, nói nhiều chẳng hiểu gì”, “nói như cơm nguội chẳng ai muốn nghe”, xảy ra như cơm bữa. Ở mọi nơi, mọi lúc, người ta ngủ gât, ngáp dài, chán nản khi phải cố gắng chịu đựng để nghe một ai đó nói. Đừng đổ tội cho người nghe, hãy đổ tội cho chính bản thân mình. Người ta không nghe bởi chúng ta không biết nói.

6 yếu tố tạo ra sự kết dính

Theo hai tác giả Chip Health và Dan Health thì một thông điệp được nói ra sẽ kết dính nếu có một số trong 6 thuộc tính cơ bản sau:

1) Simple (Đơn giản): Không có cái gì phức tạp, rối rắm mà lại được người khác ghi nhớ. Muốn được ghi nhớ, người truyền thông điệp phải tìm ra những điều cốt lõi nhất, cơ bản nhất, cô đọng nhất. Ví dụ: Jetstar là hãng hàng không giá rẻ. Thông điệp truyền thông của hãng rất đơn giản: giá rẻ hàng ngày, mọi người cùng bay. Thông điệp đó rất dễ đến với nhóm khách hàng muốn bay nhưng e ngại mức giá cao.

2) Unexpected (Bất ngờ): Muốn thu hút sự chú ý của người khác, bạn phải tạo ra được sự ngạc nhiên. Muốn duy trì sự chú ý đó, bạn phải liên tục khiến họ hứng thú. Tất cả chỉ có khi bạn biết cách tạo ra những bất ngờ. Nhiều bộ phim nước ngoài được người xem nhớ mãi vì liên tục có những tình tiết bất ngờ, đặc biệt phần kết. Còn phim Việt Nam “chưa xem đã biết kết cục” thì đương nhiên chẳng ai ấn tượng gì về nó cả.

3) Concrete (Cụ thể): Với đa số những người bình thường thì những thứ trừu tượng thường khó nắm bắt hơn là những điều cụ thể. Mọi thông điệp nên được cụ thể hóa để người nghe dễ tiếp cập. Ví dụ: Có rất nhiều cách tuyên truyền về nguy cơ đại dịch HIV lan tràn ở Việt Nam. Đưa ra các con số cụ thể là một cách hay. Ví dụ thông điệp: “Cứ 15 phút lại có một người Việt bị nhiễm HIV” gây tác động mạnh hơn bất kỳ những lời hô hào trừu tượng nào về nguy cơ của virus.

4) Credentialed (Đáng tin cậy): Không ai nhập tâm những thông điệp không đáng tin. Muốn những điều cần chia sẻ đi vào tâm trí con người, bạn phải tìm cách làm họ tin. Có nhiều cách để tăng tính tin cậy của thông điệp như tận dụng các yếu tố bên ngoài. Ví dụ: Mượn lời những người nổi tiếng, vĩ nhân để khẳng định lại kết luận của mình khiến cho người nghe cảm thấy tin tưởng hơn gấp nhiều lần nếu bạn tự nói điều đó. Ngoài ra còn có thể tận dụng những chi tiết bên trong để nâng cao độ tin cậy. Ví dụ: Một trường Đại học lớn có sảnh vinh danh những người nổi tiếng, thành đạt đã từng học tại trường sẽ tạo cho mọi người cảm giác yên tâm hơn vào chất lượng, đẳng cấp của trường.

5) Emotional (Gợi cảm xúc): Muốn truyền thông thành công, phải đánh trúng vào cảm xúc của con người. Nhớ lại thời kỳ trước, Việt Nam từng xôn xao về hiện tượng kẻ xấu dùng dao lam rạch mặt trẻ con. Chưa biết thực hư thế nào và có lẽ chỉ một vài người bị, nhưng cả xã hội ngập tràn tâm lý sợ hãi. Bố mẹ ra đường bắt con đeo khẩu trang và nai nịt thật kỹ càng. Những tin tức như vậy thường lan truyền rất nhanh bởi nó tạo ra cảm xúc, trong trường hợp này là cảm xúc sợ hãi.

6) Story (Câu chuyện): Mọi lời nói suông, mọi lý luận đều không tạo ra sự khắc sâu bằng một câu chuyện, điều đó càng đúng nếu câu chuyện đó hay và nhiều ý nghĩa. Đối với mỗi nhà truyền thông, kể chuyện nên trở thành một vũ khí thường trực. Ví dụ: Để dạy học sinh sự khác biệt giữa thiện và ác, người lớn thường đem chuyện Tấm Cám ra kể. Để nói về lòng yêu nước của tuổi trẻ, tích truyện Trần Quốc Toản bóp nát quả cam thường được nhắc tới. Mọi lời giảng của thầy cô sẽ bị quên đi ngay khi học sinh vừa bước ra khỏi lớp nhưng những mẩu chuyện như vậy thì sẽ theo chúng tới hết cuộc đời. Điều đó minh chứng cho vai trò tối quan trọng của kể chuyện trong việc ghi dấu ấn vào tâm trí con người.

Khá thú vị khi nếu bạn xếp các chứ cái đầu tiên của 6 thuộc tính trên theo thứ tự thì sẽ tạo ra từ SUCCESs. Một thông điểm muốn thành công phải đảm bảo có được càng nhiều càng tố những thuộc tính nêu trên.

Những dẫn chứng chưa “kết dính”

Cuốn sách Tạo ra thông điệp kết dính đã lý giải trọn vẹn nguyên nhân khiến những thông điệp thường “cuốn theo chiều gió” cũng như cho ta sáu công cụ để khắc phục tình trạng đó. Cuốn sách đã rất thành công trong cách đặt vấn đề cũng như đưa ra bộ khung tư duy nhắm giải quyết vấn đề đó. Không ai ngạc nhiên khi cuốn này liên tục xếp hạng cao trong danh sách những cuốn bán chạy nhất và hay nhất ở Mỹ.

Tuy vậy, do đưa ra quá nhiều dẫn chứng và ví dụ để chứng minh cho quan điểm của mình, hai tác giả đã khiến người đọc nhiều lúc cảm thấy bối rối vì sự phức tạp của dẫn chứng. Đôi chỗ các dẫn chứng không đắt, trùng lặp, khó phân định.

Mượn chữ “kết dính” của một tác giả bestseller khác là Malcolm Gladwell để làm nền cho cuốn sách của mình, Chip Health và Dan Health đã thành công trong chủ đề đó. Thất bại nếu có là ở chỗ, nhược điểm của dẫn chứng như đã nói ở trên làm cho người đọc nhiều lúc đã không hề “kết dính” vào cuốn sách.

Khánh Duy

Thứ Năm, 5 tháng 2, 2009

Văn hóa đánh đổi




http://tuanvietnam.net/vn/thongtindachieu/5965/index.aspx

Viết bài này xong, chấm dứt một thời đánh đổi.

Phát triển nhìn từ văn hóa của sự đánh đổi

Đối với một cá nhân, một doanh nghiệp hay với cả quốc gia, luôn tồn tại sự đánh đổi giữa trạng thái phát triển về mặt vật chất và trạng thái thư giãn về mặt tinh thần. Muốn phát triển thì phải đánh đổi, triết lý phát triển là gì nếu không phải là khuyến khích và thúc ép một nền văn hóa sẵn sàng chấp nhận sự đánh đổi.

Sự đánh đổi ở cấp độ quốc gia

Theo thống kê năm 2006, ở Mỹ, khoảng 400.000 người mất việc hàng tuần và cùng thời gian đó, khoảng 600.000 người thay đổi việc một cách tự nguyện. Trung bình, một người Mỹ gắn bó với một công việc trong vòng 6,6 năm, so với 10,6 năm của Đức và 11,2 năm của Nhật. *

Mô hình kinh tế thị trường cạnh tranh tự do của Mỹ là mô hình hiệu quả nhất, năng động nhất, nhiều sáng tạo nhất và cũng phát triển nhất. Nhưng đừng bao giờ quên rằng, đó là mô hình nhiều áp lực nhất. Cạnh tranh tự do đã liên tục tạo ra sức ép phải đổi mới, phải thay đổi.

Lịch sử đã chứng minh rằng mô hình tự do đã tạo ra xung lực mạnh mẽ cho sự phát triển, đó mô hình có hiệu quả hơn cả cho nền kinh tế quốc gia xét như một tổng thể. Trong dài hạn, nó đã thể hiện tính ưu việt hơn các mô hình kinh tế kế hoạch tập trung hay hỗn hợp mà thành phần nhà nước chiếm ưu thế. Nhưng, xét trong ngắn hạn và xét trên bình diện mỗi cá nhân hay doanh nghiệp, mô hình tự do cạnh tranh không hẳn đã là tốt nhất.

Doanh nghiệp trước sức ép cạnh tranh luôn đứng ở bờ vực mong manh của khả năng bị đào thải, bị phá sản. Tỉ lệ ở Mỹ cho thấy, 80% số doanh nghiệp mới thành lập không thể trụ được quá 3 năm và 98% “sập tiệm” sau 10 năm. Doanh nghiệp tư nhân trong môi trường tự do phải gánh chịu rủi ro cao gấp nhiều lần doanh nghiệp nhà nước trong môi trường “ổn định”.

Mỗi cá nhân dù là nhân viên bình thường hay nhà quản lý sống trong môi trường cạnh tranh cũng phải chịu những căng thẳng tâm lý rất lớn. Họ thường xuyên phải phấn đấu, phải vươn lên để trụ được và phát triển trong những công ty đang phải cạnh tranh khốc liệt với các đối thủ. Thất nghiệp và thay đổi công việc là chuyện cơm bữa ở những quốc gia có nền kinh tế cạnh tranh mạnh.

Cựu giám đốc cục dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan có một so sánh cực kỳ thú vị liên quan đến sự đánh đổi giữa giàu có vật chất và căng thẳng tâm lý. Ông viết: “hầu hết các nước đều phải lựa chọn một chỗ đứng giữa hai thái cực tượng trưng bằng hai điểm trên bản đồ: Silicon Valley ở một cực với năng suất cao, áp lực lớn và Venice thủ cựu, ung dung tự tại ở cực bên kia.”

Hai yếu tố tác động tới sự sẵn sàng đánh đổi

Trong dài hạn, phát triển có nghĩa là phải chấp nhận sự đánh đổi. Không thể có phát triển trong một môi trường mà các doanh nghiệp trì trệ bởi thiếu cạnh tranh, con người trì trệ bởi thiếu nỗ lực vươn lên. Quán tính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp là rất lớn, họ sẽ không đánh đổi nếu như không có sức ép từ bên trong và bên ngoài phải đánh đổi.

Nghiên cứu phát triển phải nghiên cứu tâm lý học của sự đánh đổi, nghiên cứu những yếu tố tác động khiến cá thể phải đánh đổi sự lười biếng cá nhân vì sự năng động cộng đồng. Theo chúng tôi, có hai nguyên nhân ở tầm vĩ mô có khả năng thúc ép các doanh nghiệp và cá nhân phải đánh đổi.

Yếu tố thứ nhất là văn hóa, đây là yếu tố sẽ tạo ra lực đẩy bên trong của sự đánh đổi. Một nền văn hóa có truyền thống cởi mở, khuyến khích làm giàu, khuyến khích tự do kinh doanh sẽ tạo ra những con người sẵn sàng đánh đổi, những doanh nghiệp sẵn sàng đánh đổi nhiều hơn một nền văn hóa cô lập, khép kín, bảo thủ. Một nền văn hóa tôn vinh những con người tự do sáng tạo, tự do làm giàu sẽ mang lại những thành tựu đột phá trong phát triển hơn một nền văn hóa coi giàu có là phù hoa, trái đạo lý, thậm chí tội lỗi.

Ngay cả ở những quốc gia phương Tây, cùng lấy tự do và duy lý làm giá trị nền tảng như Mỹ và Pháp, độ chênh văn hóa vẫn tạo ra sự khác biệt trong văn hóa đánh đổi. Thăm dò cho thấy, 71% người Mỹ cho rằng hệ thống thị trường tự do là mô hình tốt nhất trong khi chỉ 36% người Pháp cho như vậy. 75% thanh niên Pháp muốn làm việc cho chính phủ trong khi rất ít thanh niên Mỹ muốn thế. Mỹ đương nhiên có nền kinh tế tư bản phát triển năng động hơn Pháp.*

Yếu tố thứ hai là thể chế, đây là yếu tố sẽ tạo ra lực đẩy bên ngoài của sự đánh đổi. Một thể chế với hệ thống luật lệ bảo vệ quyền tư hữu, quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu trí tuệ mạnh mẽ sẽ tạo ra khuôn khổ để cá nhân, doanh nghiệp thành công trong sự lựa chọn đánh đổi của mình. Một thể chế với các doanh nghiệp tư nhân làm cột trụ chắc chắn sẽ khích lệ tính cạnh tranh nhiều hơn một thể chế mà doanh nghiệp nhà nước độc quyền hay nắm vai trò chủ đạo.

Hàn Quốc và Bắc Triều Tiên có cùng một xuất phát điểm vào năm 1953 nhưng giờ đây, khoảng cách giữa hai nước đã là giữa trời và vực bởi sự khác biệt về thể chế. Ngay cả ở những quốc gia đã chuyển đổi về thể chế như Nga, Trung Quốc, sự rơi rớt và những tàn dư của thể chế cũ vẫn tiếp tục tạo ra những rào cản liên tục trong quá trình vươn tới sự năng động và hiệu quả.

Việt Nam: Con đường tìm kiếm sự đánh đổi

Việt Nam bị ảnh hưởng mạnh bởi đạo Khổng và phần nào nữa là đạo Phật. Đạo Khổng vốn trọng lễ nghi, thứ bậc, hình thức. Đạo Phật khuyến khích an nhiên, tự tại, đơn giản. Nhiều người cho rằng cả hai trào lưu tư tưởng này đều phản tư do. Quan niệm như vậy là cực đoan, nhưng cũng phải thừa nhận rằng, cả hai luồng tư tưởng này đều không mấy khuyến khích những con người năng động, sẵn sàng chiến đấu, vươn lên trong môi trường cạnh tranh tự do khốc liệt.

Xã hội vẫn tồn tại tâm lý khuyến khích hình thức, lễ nghi hơn là thực chất, hiệu quả; tâm lý học để làm quan chứ không phải để ứng dụng trong thực tiễn; tâm lý hưởng thụ an nhàn hơn là cố gắng, phấn đấu. Những nét tâm lý đó không hẳn hoàn toàn tạo ra bởi văn hóa nhưng phần nào xuất phát từ văn hóa. Xét về khía cạnh văn hóa, Việt Nam chưa thực sự có được sự hẫu thuẫn mạnh mẽ cần thiết cho những con người dấn thân đánh đổi.

Việt Nam trải qua nhiều năm chiến tranh khốc liệt và nền kinh tế đi theo mô hình kế hoạch hóa tập trung. Thời gian mở cửa và bước vào nền kinh tế thị trường mới chỉ hơn 20 năm, thể chế mới đã định hình nhưng chưa đạt những chuẩn mực của thế giới. Những tàn dư của thế chế cũ không tạo ra môi trường cho sự cạnh tranh quyết liệt và bình đẳng.

Tâm lý bám víu vào thể chế cũ, quan niệm cũ để tránh sự khốc liệt của cạnh tranh, tìm kiếm sự ổn định vật chất và tinh thần vẫn hằn sâu trong não trạng của rất rất nhiều người. Ngay cả với những người có tinh thần đổi mới, sáng tạo vươn lên, sự đền bù họ nhận được từ tinh thần đó cũng không đủ lớn, thậm chí ngược lại, họ phải trả giá vì đã đánh đổi. Họ dễ dàng quay về tìm kiếm những không gian bình yên hơn là dấn thân bước vào một môi trường nhiều rào cản và bị bóp méo bởi những thành tố phi logic, phi thị trường. Xét về khía cạnh thể chế, Việt Nam cũng chưa có được nền tảng cần thiết để thực sự mở đường cho sự đánh đổi.

Nhìn đi phải nhìn lại, không thể phủ nhận rằng 20 năm đổi mới đã tạo ra một bước khởi đầu. Khu vực tư nhân từ chỗ không có gì nay đã là khu vực tạo ra công ăn việc làm nhiều nhất (50% lao động: số liệu 2006), đóng góp vào GDP nhiều nhất (41,3%: số liệu 2006) trong khi đó lại chiếm tỷ trọng vốn đầu tư ít nhất (28% so với 50% của nhà nước). Sự hiệu quả và năng động của khu vực này góp phần quyết định vào thành công của hơn 20 năm đổi mới và mở cửa nền kinh tế Việt Nam.**

Sự thành công của khu vực này cũng đã góp phần nhất định, tạo áp lực ngược lại khiến văn hóa và thể chế thay đổi. Những nhìn nhận về vai trò của thực học, của doanh nhân, của mô hình thị trường tự do… đã thay đổi nhiều từ sau đổi mới và đang diễn tiến theo chiều hướng ngày một ủng hộ và cởi mở hơn. Tâm lý bám víu cũng đã giảm dần nếu so sánh với nhiều năm trước

Thế nhưng, sự đổi thay ấy vẫn chưa đủ, vẫn không có được bầu sinh khí mạnh mẽ của một môi trường khuyến khích đánh đổi, vẫn chưa cảm thấy sức nóng của nhiệt huyết sáng tạo, năng lượng của nỗ lực cạnh tranh để kiếm tìm thịnh vượng và sự khẳng định. Ngay cả trong nội bộ Việt Nam, sự năng động của môi trường cạnh tranh ở các tỉnh phía Nam cũng đã mạnh mẽ hơn nhiều các tỉnh phía Bắc, đó cũng là một lý do giải thích tại sao khu vực phía Nam lại phát triển nhanh và mạnh hơn.

Phát triển như đã nói ở trên là phải chấp nhận sự đánh đổi. Nhưng mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp có sự lựa chọn hợp lý đối với họ, họ có thể không sẵn lòng đánh đổi và không muốn đánh đổi lợi ích ngắn hạn cho tiềm năng dài hạn, quyền lợi cục bộ cho phát triển toàn bộ. Và không ai có quyền bắt buộc người khác phải đánh đổi. Đánh đổi không nảy sinh từ sự bắt buộc mà từ sự thúc đẩy. Nhà nước với tư cách là người hướng dẫn, người lãnh đạo mới cần phải tạo ra sự thúc đẩy đó bằng văn hóa và thể chế. Văn hóa là lực đẩy bên trong, thể chế là lực đẩy bên ngoài. Đó là hai chiếc chìa khóa mở ra cánh cửa phát triển. Và chính nhà nước cũng phải đóng vai trò tiên phong trong quá trình đánh đổi ấy.

Khánh Duy

* Số liệu lấy từ cuốn The Age of Turbulence của Alan Greenspan.

** Số liệu của Viện Nghiên cứu kinh tế quản lý TW

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2009

Điểm non-fiction năm 2008

http://tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/sachhaynendoc/5910/index.aspx

Nhìn lại thị trường sách phi hư cấu năm 2008

Đã từng có thời, nói đến sách người ta liên tưởng tới truyện, tới tiểu thuyết văn học. Nhưng giờ đây, sách phi hư cấu về đủ loại chủ đề từ chính trị, kinh tế, kinh doanh, lịch sử, triết học… đã khá quen thuộc. . Đặc biệt năm 2008, rất nhiều tác giả phi hư cấu tên tuổi thuộc cả hai dòng thương mại và hàn lâm của phương Tây đã được Việt dịch.

Sách kinh doanh: năm hội tụ của các tên tuổi lớn

Sách kinh doanh có lẽ là mảng nở rộ nhất sau hội nhập. Năm 2008, một loạt các tác giả sách kinh doanh tên tuổi xuất hiện ở Việt Nam.

Trước nhất phải kể tới Peter Drucker, nhà triết học về quản trị số 1 của thế giới. Hai tác phẩm quan trọng của ông là Effective Executive và The Essential Drucker đã được NXB Trẻ và PACE dịch ra tiếng Việt với tựa đề Nhà quản trị thành công và Tinh hoa quản trị của Drucker. Đây là hai cuốn quan trọng trong trước tác hàng chục tác phẩm của nhà tư tưởng quá cố.

Trong cuốn Nhà quản trị thành công, Drucker đã đưa ra những khái niệm đơn giản nhưng then chốt của quản trị cá nhân. Muốn quản trị người khác trước hết phải quản trị chính mình sao cho làm việc hiệu quả. Hiệu quả theo Drucker lại độc lập với sự thông minh, kiến thức hay chăm chỉ. Trong cuốn sách này, Drucker lý giải rất sáng sủa những nguyên tắc để một nhân viên tri thức có thể làm việc hiệu quả hơn.

Cuốn Tinh hoa quản trị của Drucker rộng hơn, là tập hợp những tư tưởng tinh hoa nhất của Drucker về quản trị ở cả ba cấp độ: cá nhân, tổ chức và xã hội. Những khái niệm quan yếu định hình nên tên tuổi của Drucker như: “kinh doanh là tạo ra khách hàng”, “quản trị định hướng hiệu quả”, “quản trị như một chức năng xã hội”… đều được tổng hợp lại trong cuốn sách này. Drucker cho thấy một tầm tư duy thấu suốt về những vấn đề liên quan đến quản trị mà cuốn sách này là một minh chứng điển hình.

Cùng với Drucker, tác giả sách quản trị kinh doanh bán chạy nhất thế giới là Jim Collins đã được giới thiệu ở Việt Nam qua hai cuốn sách siêu bestseller trên toàn thế giới là Good to Great (từ Tốt tới Vĩ Đại) và Built to Last (Xây Dựng để Trường Tồn). Cả hai cuốn này cũng do NXB Trẻ và PACE giới thiệu. Đáng mừng là cả hai cuốn đều bán khá chạy và được giới quản trị kinh doanh Việt Nam đón nhận nồng nhiệt.

Giá trị của hai cuốn sách nằm ở chỗ nhóm tác giả đứng đầu là Collins đã tổng hợp những nghiên cứu thực tiễn trên một số lượng lớn các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp được nghiên cứu đều có thành công lâu dài và vượt trội trên tương quan so sánh với những doanh nghiệp cùng ngành nghề.

Văn phong của cả hai cuốn đều hết sức hàm súc, lý giải gãy gọn, rõ ràng, đôi chỗ cuốn hút đặc biệt. Chủ các doanh nghiệp “khoái” mấy cuốn này cũng dễ hiểu khi qua đặc điểm thành công của các công ty hàng đầu, họ có dịp tự soi lại doanh nghiệp mình. Nhiều khái niệm đưa ra trong hai cuốn này thực sự hữu ích trong việc xây dựng tư duy chiến lược và quản trị chuyên nghiệp.

Thế nhưng, cả hai cuốn đều bị khá nhiều lời chỉ trích từ giới học giả trên thế giới. Thực tế cũng cho thấy, nhiều công ty trường tồn và vĩ đại được Jim Collins coi như hình mẫu đã suy thoái sau khi sách xuất bản. Cuốn sách phê phán Jim Collins hay nhất là The Halo Effect (Hiệu ứng hào quang) có thể sẽ sớm xuất hiện ở Việt Nam trong năm nay.

Một cuốn sách kinh doanh quan trọng khác là Focus (Chuyên biệt) đã được Alphabooks dịch và xuất bản trong năm nay. Tác giả Al Ries không còn xa lạ với người đọc Việt Nam nhưng cuốn sách quan trọng bậc nhất này của ông mới lần đầu được dịch đầu đủ ở Việt Nam. Lập luận của Al Ries vẫn như vậy, gần gũi, trong sáng và rất dễ hiểu. Tác giả thuyết phục người đọc bởi sự giản đơn của lập luận chứ không phải bằng hình thức màu mè.

Vào cuối năm, sự xuất hiện rầm rộ của cha đẻ lý thuyết cạnh tranh Micheal Porter đến Việt Nam làm cho hai cuốn sách dày cộp của ông là Competive Advantage (Lợi thế cạnh tranh) và The Competive Advantage of Nations (Lợi thế cạnh tranh quốc gia) bán khá chạy. Lý thuyết cạnh tranh của Porter có vai trò nhất định trong xác lập chiến lược của doanh nghiệp và quốc gia.

Nhưng những lập luận của Porter đã và đang tiếp tục bị không ít những lời chỉ trích từ các nhà kinh tế và giới nghiên cứu quản trị kinh doanh. Lý thuyết “năm lực đẩy” nổi tiếng cũng như nhiều lý giải khác của ông tỏ ra phức tạp, bị phê phán là thiếu cơ sở thực tiễn, chỉ đúng với một số tình huống chọn lọc chứ không đại diện cho toàn thể. Hơi khó để tìm ra những ý tưởng đơn giản nhưng đột phá từ khung tư duy của Porter.

Ngoài ra, một số tên tuổi khác như John Maxwell (chuyên gia về thuật lãnh đạo), Richard Koch (tác giả nguyên lý 80/20), Zig Ziglar (chuyên gia bán hàng) đều được giới thiệu ồ ạt trong năm nay và tạo ra được sức lan tỏa nhất định. Thị trường sách kinh doanh có vẻ như đã có một năm sôi động nhất xét về cả số lượng lẫn chất lượng tác phẩm.

Sách kinh tế: tiền đề cho năm 2009

So với lĩnh vực sách kinh doanh thì sách kinh tế ảm đảm hơn. Cũng dễ hiểu khi người ta thích đọc những gì có thể ứng dụng trực tiếp được như kinh doanh hơn là những vấn đề kinh tế vĩ mô xa xôi.

Năm 2008, một gương mặt khá quen thuộc là nhà kinh tế học Joseph Stiglitz được giới thiệu với 2 cuốn sách nổi tiếng của ông là Making Globlization Work (Vận hành toàn cầu hóa) và Globlization and its Discontents (Toàn cầu hóa và những mặt trái). Cả hai cuốn đều là những đúc kết của nhà kinh tế đoạt giải Nobel 2001 từ quãng thời gian 3 năm (1997-2000) làm phó chủ tịch ngân hàng Thế giới. Cuốn thứ nhất tập trung vào phê phán những khuyết tật của thể chế toàn cầu hóa hiện nay, cuốn thứ hai đề ra những phương hướng, giải pháp để hệ thống hiện nay hoạt động công bằng và chất lượng hơn. Cả hai cuốn đều bán rấtchạy trên thế giới nhưng đã không còn mới mẻ xét về cả tư tưởng lẫn thời gian. Tuy xuất hiện muộn ở Việt Nam, nhưng cả hai cuốn này đều là những tư liệu tham khảo quan trọng cho những ai nghiên cứu lĩnh vực kinh tế ở cấp độ toàn cầu.

Một cuốn sách khác cũng không còn mới (đã được xuất bản ở Mỹ vào giữa năm ngoái) nhưng mãi tới cuối năm nay mới được ra mắt ở Việt Nam là The Age of Turbulence (Kỷ nguyên hỗn loạn) của cựu chủ tịch FED Alan Greenspan. Cuốn này là một “di sản tri thức” trong suốt cuộc đời hoạt động thực tiễn và suy ngẫm về kinh tế học của Greenspan. Trong cuốn này, Greenspan khẳng định niềm tin gần như tuyệt đối vào lý thuyết thị trường tự do nhưng điều thú vị là cuốn sách vừa ra được một năm thì cuộc khủng hoảng tài chính ập về, thách thức những lý tưởng cả đời Greenspan đeo đuổi.

Cuốn sách kinh tế mới nhất và mang tính thời sự nhất trong năm vừa rồi là “Mô thức mới cho thị trường tài chính” của George Soros. Nghe danh Soros đã lâu nhưng lần này, người Việt mới được “gặp” ông trong một tác phẩm được Phương Nam Books dịch khá nhuần nhị. Đây lại là cuốn sách đầu tiên đề cập tới đề tài khủng hoảng tài chính đang hot nên được đón nhận rất nồng nhiệt. Cuốn này mô tả khá kỹ diễn trình và nguyên nhân của cuộc khủng hoảng hiện nay. Điểm đặc biệt là ở chỗ, Soros dù là nhà hoạt động thực tiễn nhưng lại tiếp cận tài chính từ góc độ “triết học”.

Một số tác giả được đã được giới thiệu từ năm ngoái nay lại có tác phẩm thứ hai tiếp tục được dịch và xuất bản ở Việt Nam. Điển hình là học giả đoạt giải Pulizer Daniel Yergin với tác phẩm The Commanding Heights (Những đỉnh cao chỉ huy). Năm nay, tác phẩm The Prize (Dầu mỏ - Tiền bạc và Quyền lực) của nhà lịch sử kinh tế này được Alphabooks giới thiệu. Cuốn sách “dày như cục gạch” này vẽ lại lịch sử kinh tế chính trị thế giới từ góc nhìn dầu mỏ. Ngập tràn những tình tiết và nhân vật như kiểu Tam Quốc Diễn Nghĩa, Yergin dẫn dắt người đọc vào một mê hồn trận của những cuộc xung đột bất tận giữa các thế lực tranh nhau nguồn tài nguyên dầu khí.

Một tác giả khác là John Perkins với tác phẩm gây tiếng vang Lời thú tội của một sát thủ kinh tế. Lần này, Perkins trở lại với cuốn Secret history of American Empire (Lịch sử bí mật đế chế Hoa Kỳ). Tựa sách thì khác nhưng luận điệu của sát thủ kinh tế “tự phong” John Perkins thì vẫn vậy: chống tập đoàn trị và toàn cầu hóa. Cuốn sách mang nhiều màu sắc kinh tế chính trị “vỉa hè” này nổi bật nhưng không có nhiều giá trị khách quan hay học thuật.

Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ vấn đang gây ảnh hưởng mạnh tới Việt Nam. Số lượng người quan tâm tới kinh tế tài chính sẽ tăng mạnh trong năm 2009. Vì vậy, có thể dự đoán số lượng sách kinh tế năm 2009 sẽ tăng. Đặc biệt những tác giả nổi danh có sách viết về cuộc khủng hoảng hiện nay như Nobel Kinh tế 2008 Paul Krugman chắc chắn sẽ sớm xuất hiện.

Sách chính trị: Điểm sáng Obama

Việc Obama được bầu làm tổng thống da đen đầu tiên trong lịch sử Hoa Kỳ là sự kiện chính trị quan trọng bậc nhất. Giới làm sách Việt Nam đã theo kịp mạch thời sự với việc tung ra một số cuốn sách do Obama viết.

Nổi bật nhất là cuốn Audacity of Hope (Hi vọng táo bạo) của NXB Trẻ. Cuốn này được Obama viết khi còn là thượng nghĩ sỹ. Với bút pháp khá tao nhã và thấu suốt, tác giả đã phê phán nền chính trị đầy chia rẽ của nước Mỹ hiện đại. Bằng những từ ngữ đầy mỉa mai và tinh thần phản biện, Obama gây bất ngờ khi chỉ trích chính nền chính trị mà ông đang tham gia với tư cách một thượng nghị sỹ. Obama nói cuốn sách sẽ làm thất vọng nhiều người nhưng có lẽ sau cuốn này, nhiều người lại có cảm tình hơn với ông bởi óc phê phán, sự khách quan và những nỗ lực chân thành.

Một cuốn khác cũng do Obama viết là Dream from my father (Những giấc mơ từ cha tôi). Tuy nhiên, cuốn này được chuyển ngữ tồi tệ tới mức “đọc không hiểu gì”.

2008 là một năm kinh tế chứa đầy những biến động khó lường. Đầu năm lạm phát, cuối năm suy thoái, những đơn vị xuất bản sách gặp nhiều khó khăn do giá đầu vào tăng cao và sức cầu yếu đi. Thế nhưng, sách vẫn ra đều đều và cuộc chiến cạnh tranh để mua bản quyền những cuốn non-fiction bán chạy ngày càng quyết liệt.

Lĩnh vực xuất bản sách thực sự đã có những bước tiến lớn trong hai năm trở lại đây. Chỉ tiếc là, văn hóa đọc có vẻ như chưa tiến kịp theo bước tiến ấy.

Khánh Duy

Thứ Ba, 20 tháng 1, 2009

Chú Obama




Obama sắp nhậm chức rồi. Lúc đầu tôi hok thích chú vì chú da đen. Tôi thích Hillary xinh đẹp hơn. Sau đọc sách chú, tôi thấy rất quý chú. Tôi viết bài điểm sách chú, chú phù hộ tôi nhé.

Chúc chú thành công mấy năm tới, đưa toàn Đảng (Dân chủ) toàn dân và toàn quân Hoa Kỳ tiến lên thế giới đại đồng.

http://www.tuanvietnam.net/vn/nghexemdoc/sachhaynendoc/5918/index.aspx

Chính trị Hoa Kỳ dưới góc nhìn Obama

“Trông anh cũng đàng hoàng. Sao anh lại muốn nhảy vào một lĩnh vực bẩn thỉu và hiểm ác như chính trị.” Nhiều người đã hỏi Obama câu đó khi ông mới chỉ tranh cử ghế Thượng nghị sỹ Mỹ. Trong cuốn sách nổi tiếng “Hy vọng táo bạo” của mình, bằng thứ ngôn ngữ phản biện mạnh mẽ, Obama đã làm cho nhiều người bất ngờ khi đề cập đến nền chính trị Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ là mô hình dân chủ tự do điển hình, nhiều quốc gia soi chiếu vào mô hình đó để đi tìm lý tưởng chính trị cho mình. Lý tưởng chính trị “tự do ngôn luận”, “tam quyền phân lập”, “kiểm soát và cân bằng”… của các nhà lập quốc Hoa Kỳ được coi như khuôn mẫu về dân chủ, đúc kết từ tinh hoa tư tưởng của những trí tuệ lớn từ thời cổ đại tới thời Khai sáng.

Obama, một chính trị gia Mỹ tốt nghiệp Havard, đương nhiên thấu hiểu sâu sắc lý tưởng chính trị đó. Nhưng trong cuốn sách “Hy vọng táo bạo” của mình, vị tổng thống mới được bầu đã đưa ra một góc nhìn về thực tế chính trị đang diễn ra ở Mỹ so với những những lý tưởng chính trị của các nhà lập quốc năm xưa.

Nghề chính trị

Chính trị ở Mỹ có thể coi là một nghề và đó không phải là cái nghề đầy quyền uy và hào nhoáng như người ta tưởng. Obama bằng trải nghiệp trực tiếp của bản thân đã mô tả cái nghề chính trị đó hiện nay bằng những từ ngữ đầy mỉa mai: “Chính trị là nghề kinh doanh chứ không phải sứ mạng, những thứ được gọi là tranh luận thực chất cũng chỉ hơn biểu diễn một chút.”

Chính trị gia không thể thắng cử nếu không vận động để được biết tới, giống như doanh nghiệp không thể bán được hàng nếu không quảng cáo vậy. Nhưng để tổ chức vận động thì anh phải có tiền, nếu giàu rồi thì anh tự bỏ tiền túi ra mà tranh cử, còn nếu không thì phải “đi xin người giàu” như Obama đã làm từ khi còn tranh cử ghế thượng nghĩ sỹ.

Đã đi “ăn xin” thì đương nhiên phải chấp nhận những lời chối từ, những người tham vọng trở thành chính trị gia phải chấp nhận dẹp qua cái sỹ diện của mình sang một bên. Obama đã vô cùng khó khăn khi phải làm điều đó. Ông kết luận rằng để vượt qua tất cả và trở thành thượng nghị sỹ Hoa Kỳ, một chính trị gia “đòi hỏi phải có chứng hoang tưởng tự đại nhất định” và chiến dịch tranh cử thì “khi điêu tàn, khi huy hoàng nhưng lúc nào cũng lố bịch.”

Phải có tiền hoặc đi xin tiền để thắng cử, đương nhiên, dù ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, nền chính trị cũng bị chi phối bởi đồng tiền. Thế cho nên, không ít những người cực đoan nói về những chính trị gia Mỹ như sau: “chúng đều là những con rối của các nhóm đặc quyền”, những “con buôn chính trị”.

Obama đã nỗ lực để không bị ảnh hưởng và chi phối bởi các nhóm lợi ích giàu có tài trợ cho hoạt động tranh cử của mình. Nhưng ông khá chân thành khi thừa nhận: “Hậu quả của hoạt động gây quỹ là tôi ngày càng giống những nhà tài trợ giàu có tôi gặp, nghĩa là dành nhiều thời gian cho thế giới đứng trên sự tranh chấp, bên ngoài sự đói khổ, thất vọng, sợ hãi, phi lý và khó khăn của 99% dân số, bạn di chuyển theo quỹ đạo khác với những người mà bạn đại diện. Khó khăn của người bình thường, tiếng nói từ những thị trấn thất nghiệp hay những khu trung tâm đang suy thoái chỉ còn là những tiếng vọng xa xôi.”

Nỗi lo sợ thất bại, ham muốn vươn tới “địa vị và quyền lực” đã khiến các chính trị gia đôi khi “đứng giữa vách đá cheo leo”, phải cân bằng giữa nhóm lợi ích và số đông quần chúng. Vì thế, không ít lần, họ trở thành những “chính trị gia hai mặt”, “vận động một kiểu, khi trúng của làm kiểu khác.” Và, quá trình lập pháp trở thành sản phẩm của “hàng trăm thỏa hiệp lớn nhỏ”.

Nền dân chủ lệch lạc và chia rẽ

Chính trị Hoa Kỳ, theo Obama, đang đứng trước: “sự chia rẽ lớn nhất kể từ sau Thế chiến hai”. Nền chính trị với hai đảng đối lập nhau là Dân chủ và Cộng hoà có nhiều ưu việt nhưng dường như đang trôi về những thái cực cực đoan nhất của nó. “Mọi vấn đề dù lớn hay nhỏ, đối nội hay đối ngoại, tất thẩy đều được quy thành phải lựa chọn quan điểm bên này hay bên kia, phản đối hay ủng hộ, rất ngắn gọn.”

Mô hình hai đảng cạnh tranh với nhau biến thái thành “công kích”, “lăng mạ” lẫn nhau. Không bên nào công nhận tính đúng đắn của bên kia cho dù trong thâm tâm họ nghĩ rằng bên kia cũng có một phần đúng. Kết quả là chính trị gia tự nhiên phải đi theo chủ nghĩa bảo thủ cực đoan hoặc chủ nghĩa tự do ngang bướng. “Chính trị như một cuộc đấu, không chỉ là giữa các quan điểm chính trị mà là giữa thiện và ác, hoặc anh ủng hộ hoặc anh chống đối, anh phải chọn một trong hai phía.”

Obama mô tả nền chính trị bằng một cụm từ rất hay là “loại sản phẩm đóng gói”. Mọi quan điểm từ thuế má tới nạo phá thai đều đã được hai Đảng “đóng gói” lại, khi cần tranh luận với Đảng kia thì chúng sẽ được “lôi ra khỏi giá”. Theo Obama, “các suy nghĩ giáo điều và tính đảng phái cứng nhắc đã khiến người Mỹ quay lưng lại với chính trị”, “đa phần mọi người giờ đây đều xem chính trị như một trò tiêu khiển, một môn thể thao trong đó các chính trị gia là các đấu sỹ bụng phệ, còn những người đang duy trì mối quan tâm tới họ là các cổ động viên mỗi bên.”

Nền dân chủ bị chia rẽ và lệch lạc như vậy đã khiến tất cả trở thành “màn kịch chính trị”. Cho dù đóng một vai trong “màn kịch” đó, nhưng nhiều trường hợp, Obama lại phê phán nó bằng những từ ngữ nặng nề như thể người ngoài cuộc: “Những ngôn từ bay bổng được sử dụng cho những mục đích phi đạo lý, những cảm xúc cao quý nhất có thể bị phá hoại vì quyền lực, thủ đoạn, sự tham lam và thiếu khoan dung. Những lợi ích hẹp hòi cạnh tranh đề giành ưu thế, những nhóm tư tưởng thiểu số cố gắng áp đặt suy nghĩ của họ về chân lý tuyệt đối.”

Mặt trái của tự do ngôn luận

Không chỉ nền chính trị trở nên cực đoan thái quá mà báo chí cũng cực đoan như vậy. Truyền thông là sân khấu để giới chính trị biểu diễn quan điểm và công kích lẫn nhau, mọi quan điểm đều được phóng đại trên truyền hình và mạng để tạo thành một “nền chính trị thô lỗ” theo lời Obama.

Trong quá trình tranh cử, các chính trị gia dùng hàng triệu đô la để tạo ra những “cơn bão quảng cáo đả kích”. Những chuyện vợ con, tình ái của đối thủ cũng được lôi lên báo chí để triệt hạ lẫn nhau. “Họ nói với nhau về những lời lăng mạ, buộc tội, những chuyện tầm phào và cạnh khoé suốt 24h một ngày, bẩy ngày một tuần.” Obama cho rằng những công kích thiếu lịch thiệp và xây dựng như vậy chỉ tạo ra “sự giận dữ, ngờ vực và bào mòn nghị lực” của chính trị gia và “xói mòn khả năng đánh giá sự thật” của quần chúng.

Mọi lời nói của cá nhân Obama và các chính trị gia khác đều bị săm soi và trích dẫn vô lối trên blog cá nhân, báo chí để bới móc và tạo ra mâu thuẫn. Tự do ngôn luận để khuyến khích nói thật nhưng đôi khi lại phản tác dụng, khi người ta biết rằng nếu nói thật sẽ rơi vào tâm bão chỉ trích. Obama kết luận khá bi quan: “Chính trị gia ngày nay hiểu điều đó. Ông ta có thể không nói dối, nhưng ông biết không có gì tốt đẹp dành cho những người nói thật.”

Tìm lại nền chính trị đồng thuận

Dường như, có một khoảng cách giữa nền dân chủ lý tưởng trên lý thuyết với thực tế chính trị hiện tại. Thậm chí, những nguyên tắc tạo nền móng vững chắc cho nền dân chủ Mỹ từ thời khai quốc dường như đang phải đối mặt với thách thức, khi những biến thái cực đoan của nó tạo ra sự lệch lạc trong hệ thống chính trị.

Obama kêu gọi một nền chính trị khác, một nền dân chủ đồng thuận với những giá trị gốc rễ từ năm 1776, “một nền chính trị chín chắn, cân bằng giữa lý tưởng và thực tế, để phân biệt được vấn đề gì có thể thoả hiệp được và vấn đề gì không thể, để thừa nhận rằng đôi khi phe đối lập cũng đúng”, một nền chính trị biết “sự khác biệt giữa tín điều và lẽ phải, giữa có trách nhiệm và vô trách nhiệm, giữa những điều sẽ tồn tại mãi mãi và những thứ chỉ lướt qua…”

“Bình thản và thấu suốt”, Obama với tư cách một thượng nghĩ sỹ đã phân tích những mặt trái của nền chính trị mà ông đang phục vụ. Giữa thời đại hỗn loạn của những giá trị bị thách thức này, những tiếng nói phản kháng đã được lắng nghe và đó có thể là một nguyên nhân khiến Obama được bầu làm tổng thống da đen đầu tiên của nước Mỹ.

Nhưng từ những lời hô hào thay đổi tới hành động để thay đổi nền chính trị là một hành trình rất dài và khó khăn với Obama, chính Obama cũng phân vân: “Có thể chính trị đã bị tầm thường hóa tới mức không thể trở lại được như cũ…”

Người dân Mỹ và thế giới vấn đang chờ đợi hành trình tìm lại Giấc mơ Mỹ của Obama với “hi vọng táo bạo” như tên cuốn sách mà ông đã viết.

Khánh Duy