Thứ Ba, 29 tháng 11, 2011

Kỳ 2: Tắm Thổ “thật” và màn “tra tấn” với già Thổ

“Tắm Thổ với các cô gái mặc bikini như vậy không phải kiểu truyền thống đâu. Muốn biết tắm Thổ truyền thống như thế nào phải lên Istanbul.” Ilknuk, người dẫn đoàn du lịch giải thích lại một lần nữa.

Hóa ra, chúng tôi vẫn chưa biết thực sự thế nào là tắm Thổ. Càng tò mò, rà lại Lonely Planet, chúng tôi ghi ra tên Nhà tắm Thổ truyền thống nổi tiếng nhất Istanbul và quyết tâm đi tắm một lần nữa.

Cemberlitas Hamami
Vezirhan Cad. No: 8 – 34120

Quá tình cờ, Nhà tắm Thổ Cemberlitas ở ngay khu phố cổ trung tâm Istanbul, đường Divanyolu, đối diện Cây cột Vòng Constantine nổi tiếng. Vào năm 1584, kiến trúc sư hoàng gia Sinan đã xây nhà tắm này dưới sự ủy nhiệm của Nurbanu Sultan, vợ của Hoàng đế Selim II. Nhà tắm này đối diện với Nhà thờ Hồi giáo Mehmed Pasa và ngay sát Lăng Hoàng đế Mahmud II.

“Nhà tắm lại ngay sát Nhà thờ?” Có cái gì bất thường ở đây khi người ta sắp đặt một công trình thánh thiêng bên cạnh một nhu cầu “trần tục” của con người là tắm rửa. Hay đó là sự lập dị chỉ có ở Cemberlitas? Bạn đã nhầm, các nhà tắm Thổ (Hamam) trong văn hóa Ottoman thường được coi như một thành tố kiến trúc phụ trợ nhưng quan trọng trong Nhà thờ Hồi giáo. Theo thời gian, chúng nhanh chóng trở thành những công trình độc lập và hơn thế nữa, thành những kiến trúc hoành tráng. Cemberlitas là một trong số đó.

Chúng tôi tách đoàn và nhảy vào nhà tắm Thổ Cemberlitas vào quãng cuối giờ chiều. Nhà tắm đông như hội, biển ngoài chỉ rõ: nhà tắm mở cửa từ 6h sáng cho tới nửa đêm. Hamam này như các loại hình Nhà tắm khác từ La Mã không chỉ dành cho đàn ông. Quần thể Cemberlitas bao gồm những khu riêng cho nam và nữ.

“Nam nữ không tắm lẫn lỗn nhưng người tắm cho chúng tôi là nam hay nữ?” Anh bạn tôi hỏi đùa cô bán vé.

“Nam tắm cho nam và nữ tắm cho nữ.”

Hết chuyện, lần này không còn cô Nga nào tắm cho chúng tôi nữa. Dẫu sao thì chúng tôi cũng trả 59 Lira Thổ Nhĩ Kỳ, tương đương 40 đôla Mỹ để bước vào trong cánh cửa của nhà tắm Thổ. Một không gian hai tầng bằng gỗ được xây như kiểu Tứ Hợp Viện Trung Quốc, 4 mặt đều là ban công và các phòng thay đồ, ở giữa là sảnh lớn lớn nhộn nhịp người qua kẻ lại...

Một người đàn ông chờ chúng tôi ở ngay sảnh để phát khăn tắm và một hộp nhỏ chứa găng tay. Anh này dẫn chúng tôi lên một phòng ở tầng 2 để thay đồ.

“Khi bước chân vào khu nhà tắm này, bạn được chào đón bằng một không gian hoài cổ, nơi thời gian như trôi ngược về quá khứ....” Tôi đọc nhanh mấy dòng chữ trên tờ rơi giới thiệu về Nhà tắm. Cuối cùng, cái cảm giác trôi về quá khứ Ottoman ấy cũng đến khi chúng tôi được dẫn vào phòng tắm nóng.

Tương tự như nhà tắm kiểu La Mã, một Hamam truyền thống có 3 phòng chính liên thông nhau, caldarium (phòng nóng), tepidarium (phòng ấm) và frigidarium (phòng lạnh).

Phòng nóng là trung tâm của Nhà tắm Thổ và chỉ khi bước vào đây với một chiếc khăn duy nhất quấn trên người, chúng tôi mới được trải nghiệm thật sự thế nào là tắm Thổ. Tắm Thổ Nhĩ Kỳ hay còn gọi là Hamam là một biến thể của tắm hơi, xông hơi và tắm kiểu Nga, nhưng chú trọng nhiều hơn tới sử dụng nước để phân biệt với tắm hơi truyền thống.

Kiến trúc của Phòng nóng mang đặc trưng Hồi giáo Ottoman và được giữ nguyên như 5 thế kỷ trước. Một căn phòng rộng, hình tròn với mái vòm như mọi nhà thờ Hồi giáo ở Istanbul. Điểm khác biệt chỉ là, người ta đục hàng trăm lỗ nhỏ trên mái để tạo ra hàng trăm tia sáng tự nhiên chiếu xuống phòng tắm. Giữa ánh sáng mờ ảo như thế, hàng chục người đàn ông nằm la liệt trên một tảng đá cẩm thạch lớn được đặt giữa phòng. Một số ngồi cạnh các bệ nước nhỏ gắn chặt vào hốc tường xung quanh căn phòng.

Một ông già Thổ người gày đét như La Hán chỉ cho chúng tôi một chỗ trên phiến đá tròn cẩm thạch khổng lồ ấy. Chúng tôi nằm xuống phiến đá, gối đầu lên một chiếc bát sắt và cảm nhận sức nóng rát khắp toàn thân. Phiến đá nóng này nhằm mục đích giúp cơ thể bạn được thư giãn, mở hết các lỗ chân lông và toát mồ hôi một cách tự nhiên. Chúng tôi thả lỏng cơ thể để cảm nhận hết sức nóng, nhìn lên những tia sáng đục chiếu qua đỉnh mái vòm. Hàng trăm năm trước, những hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ cũng từng được tắm như thế và bây giờ với 40 đôla Mỹ, chúng tôi đã có được cảm giác như họ.

20 phút thư giãn trôi qua và ông già người Thổ đến dựng chúng tôi dạy để bắt đầu màn tắm. Kỳ cọ bằng găng tay nhám, massage toàn thân, giội nước nóng ùm ụp và thổi xà phòng khắp người, lần này cũng khác bao nhiêu so với kiểu tắm cùng các cô gái Nga. Chỉ có điều, khác với bàn tay mềm mại lần trước, bàn tay của các ông già Thổ như gọng kìm miết khắp cơ thể chúng tôi.

Đau quá, tôi kêu oai oái và mấy lần yêu cầu nhẹ tay. Có lúc, tôi tưởng bị chuột rút khi bàn tay cứng như sắt của ông già ấn vào hai bắp chân. Những người xung quanh lại có vẻ rất khoan khoái với màn tẩm quất như “tra tấn” này. Tắm Thổ truyền thông là như thế, một sự kết hợp kỳ lạ giữa xông xơi, tẩm quất và tắm thông thường, ngay giữa những di sản của đế chế một thời oanh liệt.

Không thấu hiểu hết những di sản lịch sử ấy thì việc tắm Thổ mất đi nhiều ý nghĩa. Từng dụng cụ tắm đang được sử dụng đều mang dấu ấn của lịch sử từ thời La Mã, loại khăn chúng tôi cuốn quanh cơ thể là peştemal làm bằng lụa hoặc cotton, nalın một loại guốc gỗ để tránh bị trơn trượt trong phòng tắm, kese là chiếc găng tay nhám để kỳ cọ cơ thể.

Trong giai đoạn thịnh trị của đế chế Ottoman ở Thổ Nhĩ Kỳ, thông thường, nhân viên tắm Thổ thường là những thanh niên trẻ có đủ sức khoẻ giúp khách hàng massage và kỳ cọ cơ thể. Những thanh niên này thường không phải người Hồi giáo, có thể là Do Thái, Hy Lạp, La Mã hay Armenia. Sau khi đế chế Ottoman sụp đổ vào đầu thế kỷ 20, những người đứng tuổi như ông già La Hán tắm cho chúng tôi mới thay thế thanh niên trong vai trò ấy.

Màn xông hơi, kỳ cọ, massage toàn thân ở phòng nóng dừng lại, chúng tôi được đưa ra phòng ấm để tắm tráng với xà phòng và nước. Tráng gội xong những tưởng đã đến lúc kết thúc, người hướng dẫn lại đẩy chúng tôi vào phòng nóng để nằm lên phiến đá một lần nữa. Lần toát mồ hôi thứ hai giải phóng nốt toàn bộ những mệt mỏi cuối cùng ra khỏi cơ thể.

Tắm tráng một lần nữa, chúng tôi được đưa trở ra phòng lạnh để thư giãn. Sảnh gỗ bốn mặt nơi chúng tôi bước vào đầu tiên chính là phòng lạnh theo quan niệm truyền thống Thổ Nhĩ Kỳ. Một cốc cam tươi lạnh hoàn toàn nguyên chất cho chúng tôi cảm giác sảng khoái trọn vẹn. Xung quanh, những khách tắm vẫn tấp nập đi lại như trảy hội.

Chúng tôi bước ra khỏi nhà tắm Thổ truyền thống với một tinh thần thoải mái và tươi trẻ hơn nhiều so với trước khi bước vào. Tắm Thổ có giá trị nhiều hơn việc làm sạch cơ thể, đó còn là biện pháp thư giãn và tập thể dục. Chưa hết, trong lịch sử huy hoàng của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ, nhà tắm Thổ không chỉ là nơi tắm rửa mà còn được coi như một trung tâm xã hội. Đó là nơi gặp gỡ bạn bè, vui chơi giải trí (nhảy múa, ăn uống, đặc biệt trong khu phụ nữ), lễ hội (như trước đám cưới, lễ tết, thôi nôi). Vì thế, mô hình này nở rộ khắp Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn đế chế Ottoman thịnh trị.

Nơi nào trên thế giới con người chẳng tắm rửa, chỉ có ở Thổ Nhĩ Kỳ, những giá trị nội tại và giá trị gia tăng của hoạt động này mới được nâng lên thành một thứ văn hóa, một di sản văn hóa đích thực. Di sản ấy đã mang lại doanh thu rất lớn cho du lịch Thổ Nhĩ Kỳ mỗi năm.

Khách du lịch may mắn khi được tắm theo nghĩa đen giữa những di sản của đế chế Thổ Nhĩ Kỳ. Người Thổ Nhĩ Kỳ còn may mắn hơn, họ được hưởng lợi nhờ “tắm” giữa những di sản văn hóa giàu có cha ông để lại, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.

Duy Khánh

Chủ Nhật, 6 tháng 11, 2011

Kỳ 1: Tắm Thổ hụt và tắm Thổ với “tiên Nga”


“Chúc đi vui vẻ, nhớ đi tắm Thổ nhé.” Chúng tôi nhận được tin nhắn của anh bạn trước khi lên đường đi Thổ Nhĩ Kỳ.

Tắm Thổ (Turkish Bath) hay nói rõ hơn là đi tắm kiểu Thổ Nhĩ Kỳ là điều đầu tiên trong 10 điều phải làm ở Thổ Nhĩ Kỳ theo nhiều trang website và sách hướng dẫn du lịch. “Tiếng lành đồn xa” càng làm chúng tôi tò mò. “Sang tới Thổ, rất khoát phải đi tắm Thổ!” Chúng tôi đã bàn bạc kỹ với nhau như vậy.

Điểm dừng chân đầu tiên ở Thổ Nhĩ Kỳ là một khu vực có kiến tạo địa chất bởi núi lửa có tên Cappadocia. Trên con đường quanh co của thị trấn, Ilknuk, người dẫn chương trình có chỉ cho chúng tôi một tòa nhà mái vòm nhỏ nhắn và cũ kỹ với tấm biển: “Turkish Bath” ở ngoài. “Đó là một nhà tắm Thổ, nhưng tôi không chắc về chất lượng, lên Istanbul hãy đi tắm thì tốt hơn.” Ilknuk nói.

Quá sốt ruột vì tò mò, chúng tôi muốn thử luôn ở Cappadocia. Nhưng khách sạn chúng tôi ở lại khá xa trung tâm thị trấn nơi có nhà tắm Thổ. Đành ngậm ngùi chờ khi lên tới Pamukkale, một trung tâm tắm suối nóng ở Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi hỏi lễ tân khách sạn xem có thể tắm Thổ ở đâu thì được trả lời: “Ngay trong khách sạn cũng có tắm Thổ, miễn phí, xin mời các bạn.”

Oa, như bắt được vàng, cả nhóm 4,5 người chúng tôi ùa vào một cánh cửa nhà tắm Thổ của khách sạn. Một căn phòng bằng đá cẩm thạch cỡ 15 mét vuông với một chiếc bàn đá cao khoảng chưa tới một mét nằm chềnh ềnh giữa phòng, chiếm 2/3 diện tích. Xung quanh căn phòng là 4 kệ đá nhỏ chứa nước và một số xô chậu. Căn phòng đá trắng được thiết kế theo kiểu cổ khá đẹp nhưng tuyệt nhiên không thấy bóng người người hướng dẫn.

“Tắm Thổ kiểu gì thế này, tắm như thế nào bây giờ?” Chúng tôi hỏi nhau và kéo ra ngoài hỏi ông bạn lễ tân thì nhận được câu trả lời: “Các bạn cứ vào đó tự tắm. Nếu muốn có người tắm cho thì mất 30 đôla Mỹ. Nhưng hôm nay cũng hết ca rồi, phải đợi tới ngày mai.”

“Tự tắm! Tắm Thổ là thế này á, hay là vào đó tắm cho nhau.” Đùa chán, chúng tôi lục tục rời khỏi phòng tắm Thổ để lên phòng “tự” tắm bồn.

Lần tắm hụt thứ nhất làm tăng thêm nỗi tò mò “tắm Thổ” của chúng tôi. Không đợi lâu hơn nữa, vừa tới khách sạn ven biển ở thành phố Kusadasi, chúng tôi đã hẹn nhau, 6h30 tập trung ở sảnh để đi tắm Thổ.

Trung tâm tắm, xông hơi và massage kiểu Thổ Nhĩ Kỳ của khách sạn nằm ngay ở tầng trệt. Sau khi “đóng học phí” 20 đôla mỗi người, chúng tôi được phát một chiếc khăn tắm để quấn quanh người và bị “lùa vào một phòng xông hơi tập thể. 2 “bà chị” đi cùng đoàn cũng bị lùa chung vào căn phòng xông hơi lổn nhổn cỡ chục đàn ông đóng mỗi chiếc “khố” nhỏ quanh người như thổ dân Châu Phi ấy.

“3 người đầu tiên đi theo tôi.” Người hướng dẫn vào phòng xông hơi gọi và 3 thằng đàn ông chúng tôi lẽo đẽo theo anh ta vào một phòng tắm. Căn phòng đá cỡ 20 mét vuông có trang trí y hệt phòng tắm ở khách sạn trước. Một chiếc bàn đá cẩm thạch hình lục lăng nằm giữa phòng và xung quanh là 4 bể nước đá. Lần này khác ở chỗ, 2 cô gái xinh xắn, trắng muốt chỉ mặc bikini đứng chờ sẵn ở đó. Chính xác hơn là các cô cũng quấn ngang hông một lớp khăn dài hơn gang tay y hệt chúng tôi. Phía bên kia, một gã đàn ông râu quai nón cao to lực lưỡng cũng quấn ngang hông một mảnh khăn tương tự.

A lê hấp!

Mảnh khăn mỏng quanh người chúng tôi nhanh chóng bị hai cô “phù phép’” biến đi đâu mất. Trong khi chúng tôi còn đang ngượng nghịu lấy tay che thì các cô đã ra lệnh ngồi xuống và múc nước từ kệ đá đổ ùm ùm lên người chúng tôi. Chúng tôi còn mải cười như như nắc nẻ với cái cảnh “mẹ tắm cho con” này thì anh bạn còn lại đang cãi nhau với gã Thổ đô vật cởi trần. Gã định “đè” anh ra tắm nhưng anh dứt khoát không chịu bởi nhìn sang thấy cảnh được “em út” tắm cho như chúng tôi sướng hơn. Cuối cùng, gã Thổ đành để cho bạn tôi ngồi một góc chờ đến lượt hai mỹ nhân kia tắm cho.

Đổ nước chán lên người chúng tôi, hai mỹ nữ một người Thổ, một người Nga ra lệnh cho hai chúng tôi nằm xuống. Chúng tôi vừa nằm sấp thì lại được ra hiệu phải nằm ngửa. Hai mỹ nhân lấy chiếc khăn cũ vo vo lại thành một mảnh bé tí ti rồi đặt lên “điểm cần thiết” trên người chúng tôi. Cả hai chúng tôi vẫn nằm nhìn nhau cười “như được mùa” làm hai mỹ nhân cũng cười theo. Hai cô lấy một cái khăn thô như xơ mướp đeo vào bàn tay rồi bắt đầu kỳ cọ khắp người chúng tôi như người ta đánh giấy ráp cho đồ gỗ.

Chưa hết cơn cười thì cánh cửa phòng tắm lại mở, hai nhân nữa trong đoàn bước vào, một nam một nữ. Chị nữ vội vã hét lên đòi ra khi nhìn thấy cảnh tượng “tồng ngồng” trong phòng tắm.

“Ủa sao lại tắm chung nam nữ thế này, nữ phải có phòng tắm riêng chứ.”
“Không có riêng tư gì hết, ở đây là unisex, không đọc biển báo à, không phân biệt giới tính.” Chúng tôi trả lời.

Gã Thổ to con kiếm được khách thích quá vội vã kéo ngay chị nữ vào tắm cho. Chị cũng được đặt nằm như xác ướp ngay cạnh chúng tôi, anh chàng còn lại cũng ra ngồi góc như anh trước để đợi tới lượt “tiên tắm” hay “tắm tiên” cũng được.

Trong lúc đó, hai cô gái đã lấy đâu ra cái xô trắng như xô nước rửa xe máy ở Việt Nam. Hai cô vục vào đó một cái khăn vải rất dài và khi rút khăn ra, toàn bộ tấm khăn đẫm nước xà phòng. Nhoằng một cái, không hiểu các cô kéo tấm khăn kiểu gì, một tầng bọt xà phòng dày tới ba chục phân đã trải lên người chúng tôi. Các cô bắt đầu xoa khắp người chúng tôi như massage.

“Như rửa xe.”
“Giữ cẩn thận cái nhẫn. Không nó kỳ cọ một hồi ra không thấy nhẫn đâu.”
“Hỏi các cô này xem mình tắm cho các cô ý thì hết bao nhiêu tiền.”

Hai ông bạn ở ngoài vừa nhìn chúng tôi “được” tắm vừa châm chọc. Được thể, chúng tôi tôi cũng kêu la để trêu tức: “Sướng quá, phê quá, tắm Thổ có khác.” Anh bạn tắm cùng còn vờ nắm tay cô gái và bị cô phát đùa vào tay. Cả phòng tắm nam nữ lộn xộn, vui như họp chợ, lời qua tiếng lại rôm rả như đánh tổ tôm.

Khi chúng tôi vẫn chưa dứt được cơn cười thì lại nhận chỉ thị của hai cô phải nằm sấp, một lớp bong bóng xà phòng nữa lại đổ ụp lên người chúng tôi và lại là những cơn cười.

“Thế ngày nào em cũng làm ở đây à?”
“Vâng” Cô gái Thổ tắm cho chúng tôi bập bẹ mãi mới trả lời được, không biết tiếng Anh của cô kém hay cô “giả vờ”kém.

Màn tắm tiếp tục bằng pha gội đầu bằng thứ xà phòng Thổ Nhĩ Kỳ và kết thúc bằng màn tắm tráng. Thời gian tắm quảng cáo 30 phút sao mà trôi nhanh thế. Chúng tôi được thay cho một chiếc khăn quấn người mới và mời ra nằm thư giãn ở một giường xa lông bên ngoài. Không hiểu xà phòng gội đầu kiểu gì, tóc chúng tôi vẫn bết vào như 3 ngày chưa gội.

“Thôi cũng đã, phê phết, biết thế nào là tắm Thổ.” Chúng tôi bảo nhau.

Hóa ra, cái sự tắm Thổ nó vẫn không đơn giản thế….

Duy Khánh

Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Trò hắc ám News of The World và sự tha hóa của báo chí


Bê bối New of The World không phải là một con sâu bỏ rầu nồi canh. Nó là phần nổi của một tảng băng chìm bấy lâu không được biết tới công khai bởi nỗi e ngại xâm phạm tới quyền lực và sự tự do của báo chí.

Nick Davies, phóng viên tự do của tờ The Guardian (Anh), là người đã phanh phui vụ bê bối nghe lén của tờ News of The World bằng một loạt những bài viết vạch trần cách thức tờ báo lá cải này xâm phạm trái phép các thông tin riêng tư của nạn nhân.

Một sự trùng hợp tình cờ, thời điểm vụ News of The World nổ ra cũng là thời điểm cuốn sách nổi tiếng nhất của Nick Davies được xuất bản tại Việt Nam. “The Flat Earth News”, cuốn sách gây chấn động được Nick Davies viết 3 năm trước vừa được công ty Nhã Nam phát hành dưới tựa “Tin tức trái đất phẳng”.

Trái đất thì tròn nhưng báo chí lại đồng loạt đưa tin là nó phẳng. Mượn hình ảnh một nghịch lý hiển nhiên, Nick Davies đã viết 500 trang sách chỉ để phơi bày sự lệch lạc của nền báo chí toàn cầu. Một nguyên tắc trong ngành báo: “Chó không ăn thịt chó”, các nhà báo phê phán người khác nhưng sẽ không phê bình lẫn nhau. Lần này, Nick Davies đã “bước qua lời nguyền” ấy để làm một cuộc phẫu thuật vào gan ruột báo chí.

Ca mổ đã phanh phui ra 3 căn bệnh lớn của báo chí: sự dốt nát trong các phòng biên tập tin tức dẫn tới việc đưa tin sai có hệ thống, sự tác động của PR vào báo chí làm biến dạng sự thật và cuối cùng, căn bệnh liên quan trực tiếp tới sự sụp đổ của News of The World. Tên của nó là “Nghệ thuật hắc ám”.

“Nghệ thuật hắc ám”

“Nghệ thuật hắc ám” là gì? Đó đơn giản là những cách thức phi pháp và đen tối mà nhà báo sử dụng để có được những thông tin riêng tư và bí mật. Vụ nghe lén điện thoại của các phóng viên News of The World là một ví dụ điển hình. Rất tiếc, đó không phải là tất cả.

Ai là người thường có thông tin riêng tư và bí mật: cảnh sát. Ai là người cần nó: nhà báo. Cầu nảy sinh cung và họ phải gặp nhau ở một thị trường mà Nick Davies gọi là thị trường chợ đen thông tin. Ban đầu, nhà báo “mua” cảnh sát để có những tin tức và dự liệu riêng tư. Sợ bị lộ, về sau, họ “mua” qua các “cò” thông tin, người đứng ra thay họ điều đình với cảnh sát và những người có thông tin. Trò “hắc ám” phát triển tiếp với việc nhà báo thuê thám tử tư và những kẻ moi tin chuyên nghiệp để có được những gì họ muốn.

Các thám tử được báo chí thuê đã sử dụng những nghiệp vụ của an ninh để xâm phạm đời tư của cả những nhân vật nổi tiếng, tai to mặt lớn ở Anh Quốc. Bằng đủ mọi cách, “cài phần mềm gián điệp” trong ổ cứng máy tính của đối tượng, “lắp một bức tường gương” vào máy tính để sao chép mọi thư điện tử ra vào, nghe trộm điện thoại từ mọi máy cố định và di động…

Đó là toàn bộ quá trình vận hành của thị trường thông tin “hắc ám”. Hài hước hơn cả là chuyện những kẻ moi tin chuyên nghiệp sáng sáng đi lục trộm thùng rác nhà các VIP để hi vọng tìm được thứ gì đó khả dĩ có thể xào thành tin lá cải cho buổi sáng hôm sau…

Cuốn sách của Nick Davies cho chúng ta 2 góc nhìn sâu vào vụ News of The World. Thứ nhất, đây không phải là vụ việc mang tính thời điểm, nó là một xu hướng đã kéo dài suốt 30 năm qua trong báo chí Anh Quốc, khởi nguồn từ thập niên 80. Thứ hai, đây không chỉ là câu chuyện của News of The World, những trò hắc ám tương tự đã lan rộng trong toàn bộ hệ thống báo lá cải và cả báo chính thống.

2 góc nhìn dẫn tới 1 kết luận: Bê bối New of The World không phải là một con sâu bỏ rầu nồi canh. Nó là phần nổi của một tảng băng chìm bấy lâu không được biết tới công khai bởi nỗi e ngại xâm phạm tới quyền lực và sự tự do của báo chí.

Tha hóa tuyệt đối


“Những tổ chức này tồn tại để kể sự thật, vậy mà lại thường xuyên nói dối về bản thân mình. Nhiều tổ chức báo chí là những người lớn tiếng nhất trong việc kêu gọi tôn trọng pháp luật và trật tự, kêu gọi trừng trị mạnh tay với tội phạm, có biện pháp mạnh hơn đối với hành vi chống lại xã hội, trong khi đó, chính họ lại thoải mái hối lộ, tham nhũng và đánh cắp thông tin bảo mật…”

Nick Davies viết về trò “đạo đức giả của báo chí”. Báo chí vẫn ra rả câu nói: Quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối. Chính vì thế, vai trò của nó là kiểm soát và cân bằng các quyền lực khác để ngăn chặn sự tha hóa ấy. Nhưng cuối cùng, chính báo chí cũng vấp phải một nghịch lý chưa lời đáp: ai sẽ quản lý các nhà quản lý. Hay nói một cách dễ hiểu hơn, quyền lực tuyệt đối của báo chí có dẫn nó tới sự tha hóa tuyệt đối như bản thân mọi quyền lực khác.

Các nhà báo thường trích dẫn một câu nói nổi tiếng của cha đẻ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Thomas Jefferson: “Nếu phải lựa chọn giữa một chính phủ không có báo chí và báo chí mà không cần chính phủ, tôi sẽ không ngần ngại chọn cái sau.” Câu nói ấy minh họa cho tầm quan trọng quyết định của báo chí trong một xã hội dân chủ.

Thomas Jefferson đã nói câu ấy vào năm 1787, 14 năm trước khi ông trở thành vị Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Khi đã trở thành Tổng thống, chịu không ít búa rìu dư luận, ông nói một câu chẳng nhà báo nào thích dẫn: “Những người không đọc gì còn có giáo dục hơn những người không đọc gì, chỉ đọc báo.”

Sự giận dữ đối với báo chí của người khai sinh ra “Đế chế Tự Do” Hoa Kỳ từ 300 năm trước cho thấy khía cạnh tích cực: báo chí đã thể hiện quyền lực thứ 4 của mình mạnh tới mức khiến một Tổng thống cũng không thể yên thân. Nhưng sẽ ra sao nếu hiểu theo cách tiêu cực, báo chí đã lạm dụng quyền lực tự do của mình để phê phán mù quáng và xâm phạm sai trái lợi ích của người khác?

Câu hỏi ấy cần sự phân định rõ ràng bởi đúng như câu nói của Joseph Pulitzer mà Nick Davies đã dùng để kết thúc cuốn sách của mình: “Một nền báo chí bất cần đạo lý, đánh thuê, mị dân, tha hóa sẽ dần tạo ra một dân tộc như chính nó.”

Khánh Duy

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

“Ngợp” trong thành phố lớn thứ hai thế giới thời La Mã





Trải qua 3000 năm lịch sử, sự rộng lớn và tinh xảo của những phế tích ở Ephesus còn khiến du khách bị ngợp hơn cả khi thăm những phế tích của cả Hy Lạp lẫn La Mã cổ đại ở Athens và Rome.

Dấu tích còn lại của nền văn minh Hy Lạp là thành cổ Acropolis ở thủ đô Athens và dấu tích của văn minh La Mỹ là khu vực Quảng Trường La Mã ở Rome. Nhưng cả hai địa danh lịch sử ấy đều đã chỉ còn là những cột đá ngổn ngang và đổ nát trong hoang phế. Thật bất ngờ, dấu vết “hoành tráng” của văn minh của Hy Lạp và đặc biệt là La Mã lại không phải ở nơi khai sinh ra nó mà lại ở khu vực gần thành phố biển Kusadasi, Thổ Nhĩ Kỳ.

Trung tâm của toàn bộ khu vực ấy là một thành phố cổ có tên Ephesus, toàn bộ khu khảo cổ Ephesus trải dài trên một con đường 3Km với nhiều phế tích của các Cung điện, Nhà tắm, Quảng Trường, Đại lộ, Khu chợ, Nhà hát lớn, Sân Vận động và thậm chí cả những Nhà vệ sinh công cộng từ thời La Mã.

Không di sản La Mã nào trên thế giới còn lưu giữ được lại rộng lớn hơn về quy mô như ở Ephesus. Vào thời kỳ đế chế La Mã hưng thịnh, Đây là thành phố La Mã lớn thứ hai chỉ sau Rome và cũng là thành phố lớn thứ hai thế giới thời kỳ đó.

Tuy thế, lịch sử của Ephesus không bắt nguồn từ La Mã mà khởi thủy xa hơn thế. Ephesus là vùng đất được tìm thấy đầu tiên bởi người Amazon và sau đó nhiều bộ lạc địa phương như Carian và Lelegean đã sinh sống tại đây. Tuy nhiên, giữa những bộ lạc sinh sống tại khu vực duyên hải phía Tây này lại hoàn toàn không có sự thống nhất ngay cả về mặt ngôn ngữ dẫn tới việc Ephesus rơi vào tay người Hy Lạp vào khoảng thế kỷ 10 trước Công nguyên.

Thành phố này đã nổi tiếng từ thời thời cổ đại bởi có Ngôi đền thờ thần Artemis nổi tiếng, một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Vào thế kỷ thứ 3, Alexander Đại Đế thống trị Hy Lạp và Châu Âu. Vị Hoàng Đế này chiếm được Ephesus vào năm 334 trước Công nguyên và đưa thành phố này vào kỷ nguyên vàng trong lịch sử của nó với dân số lên tới 300 000 người. Năm 130 trước Công nguyên, người La Mã chiếm được toàn bộ khu vực Tiểu Á và thành phố Ephesus trở thành thủ đô cũng như đô thị lớn nhất Tiểu Á với dân số lên tới 200 000 người.

Nằm ngay dưới chân những quả đồi thấp và ở một khu vực địa lý sát bờ biển, miền đất Ephesus trù phú và phì nhiêu với khí hậu luôn mát mẻ và trong lành. Miền đất lành ấy cũng là nơi chứng kiến sự lan tỏa mạnh mẽ của đạo Cơ Đốc. Không xa so với Israel nơi Chúc Jesus đã ra đời và phục sinh, hai tông đồ của ông là Thánh John và Thánh Paul đều đã dành phần nhiều thời gian của mình để tới đây thuyết pháp. Cơ Đốc giáo nhanh chóng trở thành tôn giáo chủ đạo ở Ephesus và người dân tụ tập quanh ngọn đồi Ayasuluk nơi Nhà thờ thánh John tọa lạc.

Đặc biệt nhất trên ngọn đồi ngay sát Ephesus còn có căn nhà nơi Đức Mẹ Maria tương truyền đã sống và qua đời. Căn nhà nhỏ giữa núi đồi ngân vang tiếng kinh cầu buổi sáng trong trẻo tạo cho du khách một cảm giác rất dễ chịu. Ephesus không chỉ là lịch sử, nơi đây xứng đáng được coi là một điểm du lịch hành hương tôn giáo đối với những người theo đạo Cơ Đốc.

Ephesus giảm dần kích thước lẫn dân số của nó cùng với đà suy vong của đế chế La Mã và trở thành một nơi hoang phế khi đế chế Ottoman bắt đầu thống trị Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy đã bị bỏ hoang hàng trăm năm, nhiều di tích quan trọng trong lịch sử kinh qua cả hai đế chế Hy Lạp và La Mã ở Ephesus vẫn giữ được hình hài tương đối so với những di tích tương tự trên thế giới.

Điển hình nhất trong số đó là Thư viện Celsus, điểm gần cuối trên con đường di sản Ephesus. Tòa nhà này được xây như một lăng mộ vĩ đại vào năm 117 trước công nguyên bởi quan chấp chính tối cao La Mã Julius Aquila nhân danh cha mình là Celsus Polamaeanus. Tòa nhà này về sau được sử dụng với cả chức năng hầm mộ lẫn thư viện nơi những cuộn giấy được lưu trữ trong những hốc tường. Mặt trước cổng Thư viện là 4 bức tượng nữ nhân biểu trưng cho 4 đặc điểm của Celcus: trí tuệ, đức hạnh, thông minh và học thức.

Trải qua 3000 năm lịch sử, sự rộng lớn và tinh xảo của những phế tích ở Ephesus còn khiến du khách bị ngợp hơn cả khi thăm những phế tích của cả Hy Lạp lẫn La Mã cổ đại ở Athens và Rome.

Duy Khánh

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011

Bơi giữa những đổ nát ở "thành phố chết"





Một thành phố nơi người ta tới để được… “chết”, không phải để tự tử, bạn đừng nhầm, nơi ấy, người ta tới để trị liệu và làm dịu nỗi đau bệnh tật trước khi qua đời. Đó chính là thành phố cổ Hierapolis ở một khu vực thiên nhiên nằm ở tỉnh Denizli, Tây Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Khu vực thiên nhiên vẫn được gọi bằng cái tên quen thuộc Pamukkale hay Lâu Đài Bông.

“Thành phố chết” Khi người dẫn chương trình Ilknuk nói với chúng tôi chi tiết ấy, chúng tôi đã bật cười. “Tớ còn yêu cuộc sống lắm, chưa muốn chết.” Tôi quay sang đùa Ilknuk. “Không, một thành phố chết nhưng mọi người sống đều muốn đến. Ở đó có rất nhiều cô gái Nga xinh đẹp, các bạn sẽ thấy.”

Cuối cùng thì Pamukkale đã hiện ra, xóa đi đôi chút sự tò mò của chúng tôi, một mảng núi trắng lấp lóa trải dài như một dải lụa trong ánh sáng của những tia nắng cuối chiều. Cũng khá hùng vĩ nhưng chưa có gì ấn tượng, thị trấn khá vắng vẻ và yên ả. Cảm giác đầu tiên: một nơi lý tưởng để thư giãn và nghỉ ngơi hơn là du lịch.

Sự thực, nơi đây đã từng là nơi thư giãn hoàn hảo từ thời cổ đại chứ không phải bây giờ và chuyện người ta tới đây để “chết” là câu chuyện có thật của lịch sử. Nhưng đến với Pamukkale những ngày nay chỉ có khách du lịch chứ không phải bệnh nhân. Pamukkale có gì mà hấp dẫn tới vậy, câu trả lời đến với chúng tôi khi trực tiếp leo lên đỉnh núi để thăm quan thành cổ vào buổi sáng hôm sau.

Ấn tượng đầu tiên khi bước chân vào khu du lịch Pamukkale là các suối nước nóng trên nền những dãy đá vôi lắng động hàng triệu năm bởi dòng chảy suối khoáng. Pamukkale có khoảng 17 suối khoáng với nhiệt độ từ 35 tới 100 độ C. Các suối khoáng trên nền đá vôi xếp tầng tầng lớp lớp trông rất ngoạn mục.

Các nhà sử học cho rằng các suối khoáng này chính là lý do khiến từ hơn 2000 năm trước, người dân đã về đây để tắm với mục đich thư giãn, làm dịu nỗi đau bệnh tật. Những bệnh nhân từ thời La Mã đã về đây tĩnh dưỡng và thậm chí qua đời khiến nơi này hiện còn rất nhiều những ngôi mộ. Cái tên thành phố chết xuất phát từ đó.

Tuy nhiên, giờ đây, thành phố chết lại trở thành một trung tâm du lịch sôi động xôn xao tiếng trẻ em và hình ảnh những cô gái mặc bikini từ khắp nơi, đặc biệt từ Nga và Đông Âu. “Không có mấy cô Nga mặc bikini tắm trên các suối khoáng lộ thiên này, Pamukkale mất một nửa giá trị.” Anh bạn đi cùng chúng tôi bình luận trên con đường “lội nước” men theo các lớp suối khoáng.

Mất tới 30 phút đi bộ bằng chân đất dọc theo lớp suối khoáng, chúng tôi trở ra và bắt đầu đi ngược lên khu thành cổ phía trên. Thành phố cổ Hierapolis được xây dựng ngay trên đỉnh của Pamukkale có chiều dài 2700 mét và chiều rộng 600 mét. Hiện có rất ít bằng chứng lịch sử về nguồn gốc của thành cổ này. Tuy nhiên, khi người La Mã chiếm được thành phố này vào khoảng thế kỷ 2 trước công nguyên, thành phố đã biến chuyển từ từ trở thành một thị trấn mang phong cách La Mã.

Người La Mã đã xây dựng ở thành phố này nhiều công trình quan trọng để phục vụ cho nhu cầu trị liệu bằng suối nóng ở đây bao gồm: nhà tắm kiểu La Mã, trường huấn luyện thể dục, một vài đền thờ và một khu phố chính với những hàng cột và đài phun nước. Đặc biệt là một nhà hát khổng lồ với sức chứa 15 000 chỗ ngồi. Những công trình chứng tỏ Hierapolis đã từng là một thành phố nổi bật dưới thời đế chế La Mã với dân số lên tới 100 000 người và thương mại phát triển mạnh.

Tuy nhiên, những trận động đất mạnh ở thế kỷ 7 và đặc biệt ở thế kỷ 14 đã phá hủy toàn bộ thành phố và chôn vùi nó dưới một lớp đá vôi dày. Những cuộc khai quật từ giữa thế kỷ 20 bắt đầu trả lại gương mặt đã mất cho Hierapolis. Những hàng cột của khu phố chính được dựng lại, nhiều ngôi nhà từ thời Byzantine được đào lên và một viện bảo tàng được xây trên nền Nhà tắm của La Mã cũ.

Du lịch tới Hierapolis quá phát triển vào cuối thể kỷ 20 khi những suối nóng ở đây trở nên nổi tiếng. Người ta bắt đầu xây dựng hàng loạt khách sạn hiện đại ngay trên đỉnh thành cổ, dẫn tới sự phá hại không nhỏ cảnh quan thiên nhiên nơi đây.

Những năm gần đây, những khách sạn này đã được dỡ bỏ, trả lại cho thành cổ sự yên tĩnh vốn có của nó. Tuy nhiên, bể bơi nước nóng của một khách sạn vẫn được giữ lại để du khách có cơ hội bơi trên những đổ nát của thành phố La Mã cũ. Khuôn viên của bể bơi La Mã ấy là một không gian “tiên cảnh” nơi những cô gái Châu Âu bơi tung tăng trên những phiến đá và cột đá vụn vỡ của cổ thành.

Bể bơi trên nền đổ nát được viền quanh bởi những cây trúc đào hồng rực ấy là điểm nhấn cuối cùng và ấn tượng bậc nhất cho mỗi du khách từng đặt chân tới Pamukkale.

Duy Khánh

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Miền đất được “vẽ” bằng phun trào núi lửa







Những thành phố được xây trên nền và dưới lòng đất đá và tro bụi núi lửa phun trào từ ít nhất 2 triệu năm về trước. Sự độc đáo ấy nằm ở một khu vực địa chất kỳ thú có tên Cappadocia, miền Trung Thổ Nhĩ Kỳ.


Cappadocia không phải là một thành phố, chính xác đó là một vùng lãnh thổ nằm giữa các thành phố ở miền trung Thổ Nhĩ Kỳ như Aksasay, Nigde, Nevsehir và Keyseri. Vùng lãnh thổ có cái tên lịch sử Cappadicia ấy luôn là điểm đến ưu tiên của mọi tour du lịch Thổ Nhĩ Kỳ bởi cấu tạo địa chất độc nhất vô nhị làm sững sờ mọi khách thăm.

Thành phố trên đá núi lửa


Đi vào Cappadocia là bạn đang đi trên một tầng đất đá, dung nham, tro bụi và cặn núi lửa còn sót lại từ hàng triệu năm về trước. Cấu tạo địa chất của kỳ quan thiên nhiên thế giới Cappadocia là kết quả của hai lực lượng tự nhiên đối nghịch. Lực lượng thứ nhất là những đợt phun trào của núi lửa từ khoảng Kỷ thứ 3, tức cách thời điểm chúng ta đang sống từ 50 tới 2 triệu năm. Lực lượng thứ hai là sự xói mòn lãnh thổ xảy ra sau khi các đợt phun trào của núi lửa đã kết thúc.

Núi lửa và xói mòn đã để lại một “bình nguyên” với những “cánh rừng” bạt ngàn. Không phải bình nguyên mang màu xanh hoa cỏ mà một bình nguyên vàng nhạt của đất đá núi lửa. Không phải một cánh rừng cây cối um tùm mà là một rừng của những cột đá hình tháp nhọn xếp lớp và trải dài mênh mông.

Lớp đất đá và dung nham phun trào từ núi lửa luôn mềm và dễ tạo hình hơn đất đá thông thường. Vì thế, ở Cappadocia, trong hàng ngàn năm qua, con người đã đẽo vào những đồi đá và cột đá để tạo thành nơi cư trú cho riêng mình. Những hốc nhà nhỏ xinh trong đá núi lửa là một đặc trưng lạ và hiếm của mảnh đất này.

Cao điểm nhất trong toàn bộ bình nguyên đá Cappadicia là Uchisar, hay còn được người dân ở đây gọi là Pháo đài. Đó là hai cột đá khổng lồ được viền quanh bởi những cột đá nhỏ hơn, trông giống một ngọn tháp. Người dân đã đào vào đá để cư trú trong ngọn tháp này suốt từ thời Byzantine cho tới thời Ottoman, tức khoảng 1500 năm. Họ tiếp tục sống như vậy và chỉ phải rời khỏi “ngôi nhà” của mình vài chục năm trước do đá bị xói mòn.

Cơ Đốc giáo trong lòng đá núi lửa


Thành phố cổ nhất của khu vực Cappadocia là Gorome, còn có tên là thành phố Macan trong quá khứ. Người bản địa sống trong những căn phòng được đào sâu trong núi đá và không gian thành phố được bao bọc bởi những lớp đá cao.

Điểm đặc biệt nhất của thành phố này là có rất nhiều nhà thờ trong hang đá, một cách để người bản địa theo đạo Thiên Chúa che giấu niềm tin của mình trước sự cấm đoán. Đa phần các nhà thờ ở Gorome đều nhỏ và chỉ có một phòng đơn, nhưng những bức họa về Đức Jerus và các điển tích Kinh thánh được vẽ trang trí cho thấy sự phát triển mạnh của Đạo Cơ Đốc ở khu vực này từ khoảng thế kỷ 7. Hiện chưa xác định rõ sự phát triển ấy kết thúc vào năm nào nhưng từ khoảng thế kỷ 11, rất ít nhà thờ mới được xây dựng. Với di sản địa chất, lịch sử và tôn giáo của mình, Gorome được gọi là “Bảo tàng mở ngoài trời” của Cappadocia.

Thung lũng của nấm bằng đá núi lửa

Nhưng di sản ngoài trời ấn tượng nhất ở Cappadocia phải là Thung lũng nấm. Cấu tạo nổi bật nhất ở đây là những hình nấm như trong cổ tích. Hàng loạt những cấu trúc nấm xếp liền nhau tạo thành những thung lũng nấm đẹp hùng vĩ.

Những hình nấm này chính là sản phẩm địa chất hình thành trong hàng triệu năm. Phun trào núi lửa đã tạo ra hàng loạt hình nón với đá tuff ở dưới và phủ bên trên là lớp đá magma bazan hoặc andesite. Lớp đá magma bazan có thể tạo thành những cột lớn hình nón hoặc tạo ra mỏm đá hình nón bên trên lớp đá tuff. Có những cột đá đội nón bazan cao tới 40 mét.

Theo thời gian, hiện tượng xói mòn bắt đầu làm mỏng đi lớp đá tuff mềm hơn phía dưới phần nón bazan cứng bên trên. Sự xói mòn này tạo ra những cột đá đội nón như những chiếc nấm tự nhiên độc đáo.

Thành phố ngầm dưới lòng đá núi lửa

Không chỉ đẽo đá trên mặt đất để cư trú, người Cappadocia còn đào xuống dưới lòng đất để tạo ra ra những thành phố ngầm, có khoảng 40 thành phố ngầm như thế liên thông với nhau.

Những thành phố ngầm này có 8 tới 9 tầng được đào sâu hơn 80 mét xuống lòng đất, chính xác hơn là được đào trên lớp đá tuff phun trào từ núi lửa. Những thành phố ngầm tạo ra một mê cung với hàng loạt những phòng ốc, đường đi hẹp và hệ thống dấn khí.

Các nhà sử học cho rằng người bản địa Cappadicia đã liên tục phải đối mặt với các cuộc tấn công và cướp bóc của người Ba Tư phương Đông và người Arập phương Nam từ thế kỷ thứ 7. Chính vì thế, họ đã phải xây những thành phố ngầm dưới đá núi lửa này để trú ẩn.

Thành phố ngầm Kaymakli mà chúng tôi tới thăm cách Nevsehir 20Km về phía Nam. Thành phố này dự tính được xây từ khoảng thế kỷ 6 đến thế kỷ 10 trong thời gian bị người Ba Tư và Arập tấn công. Thành phố rộng tới 2,5 Km vuông với đầy đủ những phòng ở, nhà thờ, hầm mộ, kho chứa, nhà sản xuất rượu và phòng bếp.

Sự rộng lớn và kích thước đa dạng của các phòng ốc trong thành phố ngầm chứng tỏ nó đã là nơi trú ẩn của không ít người nhưng các nhà sử học vẫn khó xác định chính xác niên đại cũng như thành phần cư trú, bởi không hề có một hình vẽ nào trên các bức tường đá.

Lịch sử Cappadocia còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá hết, chỉ có một điều chắc chắn, lịch sử ấy đã được “vẽ” bởi những phun trào núi lửa. Chỉ điều ấy cũng đủ để mỗi năm 30 triệu lượt khách đổ về Thổ Nhĩ Kỳ không thể quên tới thăm Cappadocia.

Duy Khánh

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

“Quyền lực thì đứng, quyền uy thì ngồi”


“Quyền lực thì đứng, quyền uy thì ngồi.” Những dòng tít trên chiếc standy giới thiệu về triển lãm “Ngai vàng của những ông hoàng” tại cung điễn Versailles nước Pháp làm người xem tò mò. Tại sao người Pháp lại trưng bày một triển lãm chỉ để đi tìm sự khác biệt giữa quyền lực và quyền uy?

Đó là thứ 3. Một ngày thường. Không vì thế mà cung điện Versailles vắng khách. Không có những di sản đặc biệt quý hiếm như Louvre, Versailles có những không gian hấp dẫn của riêng nó. Một giá trị gia tăng khác, từ ngày 1 tháng 3 tới 19 tháng 6 năm nay, những gian phòng của Versailles giành để trưng bày những chiếc ngai vàng từ khắp nơi trên thế giới.

Từ năm châu bốn biển, ngai vàng tụ tập cả về Versailles: ngai của lãnh tụ Inca ở Peru (Châu Mỹ) , ngai của vua Ghezo (vương quốc Dahomey) ở Benin (Châu Phi), ngai của Hoàng đế đào hoa Càn Long ở Trung Quốc (Châu Á), ngai của Louis XVI, ông vua bị đưa lên máy chém bởi cách mạng Pháp (Châu Âu)…

Đa dạng về không gian, đa dạng cả về thời gian. Chiếc ngai cổ nhất là của nước Marsch thuộc Đức thế kỷ thứ 5, rồi tới ngai của ông hoàng Dagobert nước Pháp thế kỷ thứ 7, gần đây nhất là chiếc ghế tổng thống Pháp Jacques Chirac đã ngồi để chiêm ngưỡng lễ mừng quốc khách 14 tháng 7 năm 2005…

Versailles đã mất công đi mượn từ các lâu đài, cung điện, bảo tàng ở khắp nơi trên thế giới để có được cuộc triển lãm kéo dài gần 4 tháng này. Cuộc triển lãm ngoài mục đích trình diễn “ngai vàng” để “mua vui” còn muốn đi tìm ý nghĩa thực của hai chữ “quyền uy” như cuốn sách giới thiệu về nó viết: “Từ Dagobert tới Pius VI, từ Hoàng đế Trung Quốc tới Sa hoàng Nga, những chiếc ngai bao giờ cũng đi đôi với uy quyền. Chế độ này hay chế độ khác, châu lục này sang châu lục khác, hình dáng có thể đổi thay nhưng chức năng của những chiếc ngai không hề thay đổi…”

Quyền uy ổn định, quyền lực mong manh

Hàng ngàn năm trước, người Hy Lạp cổ đại đã phân biệt giữa hai khái niệm mang tính bản chất cùng ám chỉ sự vận dụng quyền năng: quyền lực (power) và quyền uy (authority).

Quyền lực đi đôi với sức mạnh, một ông vua dùng sức mạnh để đàn áp người dân hay chiếm đoạt lãnh thổ của các quốc gia khác là một ông vua có quyền lực. Quyền lực thường biểu trưng bằng hình tượng đứng. Người “anh hùng” ấy sau trận thắng trở về thường đứng thẳng người để các thần dân xung quanh tung hô, hình ảnh đó tượng trưng cho sức mạnh của quyền lực. Xét về khía cạnh ổn định, quyền lực khá mong manh và rất dễ đổi thay.

Quyền uy cũng là một thứ quyền lực nhưng đi kèm với nó là một vị thế mang tính pháp lý và tinh thần lớn hơn. Chính vì thế, quyền uy có tính bền vững và chắc chắn hơn quyền lực. Quyền uy luôn đi kèm với hình tượng ngồi. Cảnh tượng ông vua ngồi trên chiếc ngai vững chãi và to lớn của mình mô tả đúng bản chất của hai chữ quyền uy.

“Khi cách mạng Pháp chấm dứt chế độ quân chủ, người ta đổi tên Quảng trường Ngai vàng thành Quảng trường Lật đổ Ngai vàng. Không giây phút nào trong lịch sử mà nền tảng và sức mạnh của biểu tượng ấy bị lãng quên. Khi Napoleon hồi phục lại nền quân chủ, ông ấy đã nhanh chóng tái lập lại những nghi thức và lễ lạt của nó trong đó có việc sử dụng lại ngai vàng đã bị xóa bỏ nhân danh sự bình đẳng trong Cách mạng.” Ông Jean Jacques Aillagon, giám đốc bảo tàng Versailles nói.

Những chiếc ngai vàng là biểu tượng hợp lý của quyền uy, không chỉ trong chính trị mà cả ở những lĩnh vực khác như tôn giáo hay tri thức. Quyền uy không chỉ mang tính “vật chất” mà tồn tại ở cả địa hạt tinh thần. Minh hoạ cho ý tưởng đó, bảo tàng Versailles không chỉ triển lãm ngai vàng của các ông hoàng mà còn triển lãm cả những bức tượng của các lãnh tự tôn giáo Đông Tây đang ngồi trên “ngai vàng” của mình. Bức tượng Phật ngồi bằng đồng Gandhara từ thế kỷ thứ 3 và bức tượng Đức Chúa Jesus năm 1230 đều được trưng bày lần này. Hai chiếc ngai thật của hai giáo hoàng Innocent X và Pius VI cũng được sắp xếp ở các vị trí quan trọng.

Quyền lực di chuyển, quyền uy đứng yên

Điểm đặc biệt của bộ sưu tập này là các “ngai vàng di động” như của Napoleong III, giáo hoàng Pius VII hay triều đại Habsburg cuối thế kỷ 18. Khi các ông hoàng phải di chuyển từ nơi này sang nơi khác, để đảm bảo vị thế uy nghi của mình, họ vẫn sử dụng những chiếc ngai di động được hầu cận khiêng vác hoặc đặt trên lưng những động vật to khoẻ như voi hay lạc đà.

“Quyền lực có thể di chuyển nhưng quyền uy thì luôn ngồi vững chãi. Làm thế nào để có thể tương thích hóa tính cố định và vững chắc của quyền uy với sự chuyển động của người nắm uy quyền. Cách thức đơn giản nhất là đặt họ lên những chiếc ngai di động. Như thế, bản chất ung dung và thường hằng của quyền uy vẫn được giữ vững.” Ông Jean Jacques Aillagon phân tích.

Quyền uy quan trọng đặc biệt với những bậc nguyên thủ. Trong lịch sử, khi tới Boulogne để chuẩn bị tấn công nước Anh, Napoleon đã mượn chiếc ngai vàng của hoàng tộc lâu đời nhất nước Pháp Dagobert nhằm chứng minh tính chính đáng trong quyền uy của ông. Những chiếc ngai thường được đặt trên bệ cao để chứng minh cho sự vượt trội và thống trị của nguyên thủ so với thần dân.

Quyền uy đích thực không cần biểu tượng hình thức

Điều ngạc nhiên là ngay ở Versailles nhưng chiếc ngai bạc của chủ nhân cung điện, ông vua mặt trời Louis XIV, lại không thấy đâu. Hóa ra, chiếc ghế bạc ấy đã được chính chủ nhân của nó ra lệnh đốt cùng với nhiều đồ bạc khác vào năm 1689 để trả chiến phí.

Được quyết định khởi công từ năm 1666 bởi Vua mặt trời, Versailles đã trở thành cung điện hoàng gia vĩ đại nhất thế giới và cũng là một trong số ít cung điện không có thành lũy. Vua Louis XIV đã xây hoàng cung giữa đồng trống, để chứng tỏ một đấng quân vương đủ quyền uy không cần đến hào và tường thành bảo vệ. Vua mặt trời được người đời ngợi ca là vị hoàng đế lỗi lạc nhất trong lịch sử nước Pháp cho dù biểu tượng hình thức của uy quyền là chiếc ngai vàng ông cũng sẵn sàng để vứt nó đi.

Khánh Duy