Thứ Hai, 1 tháng 8, 2011

Trò hắc ám News of The World và sự tha hóa của báo chí


Bê bối New of The World không phải là một con sâu bỏ rầu nồi canh. Nó là phần nổi của một tảng băng chìm bấy lâu không được biết tới công khai bởi nỗi e ngại xâm phạm tới quyền lực và sự tự do của báo chí.

Nick Davies, phóng viên tự do của tờ The Guardian (Anh), là người đã phanh phui vụ bê bối nghe lén của tờ News of The World bằng một loạt những bài viết vạch trần cách thức tờ báo lá cải này xâm phạm trái phép các thông tin riêng tư của nạn nhân.

Một sự trùng hợp tình cờ, thời điểm vụ News of The World nổ ra cũng là thời điểm cuốn sách nổi tiếng nhất của Nick Davies được xuất bản tại Việt Nam. “The Flat Earth News”, cuốn sách gây chấn động được Nick Davies viết 3 năm trước vừa được công ty Nhã Nam phát hành dưới tựa “Tin tức trái đất phẳng”.

Trái đất thì tròn nhưng báo chí lại đồng loạt đưa tin là nó phẳng. Mượn hình ảnh một nghịch lý hiển nhiên, Nick Davies đã viết 500 trang sách chỉ để phơi bày sự lệch lạc của nền báo chí toàn cầu. Một nguyên tắc trong ngành báo: “Chó không ăn thịt chó”, các nhà báo phê phán người khác nhưng sẽ không phê bình lẫn nhau. Lần này, Nick Davies đã “bước qua lời nguyền” ấy để làm một cuộc phẫu thuật vào gan ruột báo chí.

Ca mổ đã phanh phui ra 3 căn bệnh lớn của báo chí: sự dốt nát trong các phòng biên tập tin tức dẫn tới việc đưa tin sai có hệ thống, sự tác động của PR vào báo chí làm biến dạng sự thật và cuối cùng, căn bệnh liên quan trực tiếp tới sự sụp đổ của News of The World. Tên của nó là “Nghệ thuật hắc ám”.

“Nghệ thuật hắc ám”

“Nghệ thuật hắc ám” là gì? Đó đơn giản là những cách thức phi pháp và đen tối mà nhà báo sử dụng để có được những thông tin riêng tư và bí mật. Vụ nghe lén điện thoại của các phóng viên News of The World là một ví dụ điển hình. Rất tiếc, đó không phải là tất cả.

Ai là người thường có thông tin riêng tư và bí mật: cảnh sát. Ai là người cần nó: nhà báo. Cầu nảy sinh cung và họ phải gặp nhau ở một thị trường mà Nick Davies gọi là thị trường chợ đen thông tin. Ban đầu, nhà báo “mua” cảnh sát để có những tin tức và dự liệu riêng tư. Sợ bị lộ, về sau, họ “mua” qua các “cò” thông tin, người đứng ra thay họ điều đình với cảnh sát và những người có thông tin. Trò “hắc ám” phát triển tiếp với việc nhà báo thuê thám tử tư và những kẻ moi tin chuyên nghiệp để có được những gì họ muốn.

Các thám tử được báo chí thuê đã sử dụng những nghiệp vụ của an ninh để xâm phạm đời tư của cả những nhân vật nổi tiếng, tai to mặt lớn ở Anh Quốc. Bằng đủ mọi cách, “cài phần mềm gián điệp” trong ổ cứng máy tính của đối tượng, “lắp một bức tường gương” vào máy tính để sao chép mọi thư điện tử ra vào, nghe trộm điện thoại từ mọi máy cố định và di động…

Đó là toàn bộ quá trình vận hành của thị trường thông tin “hắc ám”. Hài hước hơn cả là chuyện những kẻ moi tin chuyên nghiệp sáng sáng đi lục trộm thùng rác nhà các VIP để hi vọng tìm được thứ gì đó khả dĩ có thể xào thành tin lá cải cho buổi sáng hôm sau…

Cuốn sách của Nick Davies cho chúng ta 2 góc nhìn sâu vào vụ News of The World. Thứ nhất, đây không phải là vụ việc mang tính thời điểm, nó là một xu hướng đã kéo dài suốt 30 năm qua trong báo chí Anh Quốc, khởi nguồn từ thập niên 80. Thứ hai, đây không chỉ là câu chuyện của News of The World, những trò hắc ám tương tự đã lan rộng trong toàn bộ hệ thống báo lá cải và cả báo chính thống.

2 góc nhìn dẫn tới 1 kết luận: Bê bối New of The World không phải là một con sâu bỏ rầu nồi canh. Nó là phần nổi của một tảng băng chìm bấy lâu không được biết tới công khai bởi nỗi e ngại xâm phạm tới quyền lực và sự tự do của báo chí.

Tha hóa tuyệt đối


“Những tổ chức này tồn tại để kể sự thật, vậy mà lại thường xuyên nói dối về bản thân mình. Nhiều tổ chức báo chí là những người lớn tiếng nhất trong việc kêu gọi tôn trọng pháp luật và trật tự, kêu gọi trừng trị mạnh tay với tội phạm, có biện pháp mạnh hơn đối với hành vi chống lại xã hội, trong khi đó, chính họ lại thoải mái hối lộ, tham nhũng và đánh cắp thông tin bảo mật…”

Nick Davies viết về trò “đạo đức giả của báo chí”. Báo chí vẫn ra rả câu nói: Quyền lực tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối. Chính vì thế, vai trò của nó là kiểm soát và cân bằng các quyền lực khác để ngăn chặn sự tha hóa ấy. Nhưng cuối cùng, chính báo chí cũng vấp phải một nghịch lý chưa lời đáp: ai sẽ quản lý các nhà quản lý. Hay nói một cách dễ hiểu hơn, quyền lực tuyệt đối của báo chí có dẫn nó tới sự tha hóa tuyệt đối như bản thân mọi quyền lực khác.

Các nhà báo thường trích dẫn một câu nói nổi tiếng của cha đẻ Hợp chúng quốc Hoa Kỳ, Thomas Jefferson: “Nếu phải lựa chọn giữa một chính phủ không có báo chí và báo chí mà không cần chính phủ, tôi sẽ không ngần ngại chọn cái sau.” Câu nói ấy minh họa cho tầm quan trọng quyết định của báo chí trong một xã hội dân chủ.

Thomas Jefferson đã nói câu ấy vào năm 1787, 14 năm trước khi ông trở thành vị Tổng thống thứ 3 của Hoa Kỳ. Khi đã trở thành Tổng thống, chịu không ít búa rìu dư luận, ông nói một câu chẳng nhà báo nào thích dẫn: “Những người không đọc gì còn có giáo dục hơn những người không đọc gì, chỉ đọc báo.”

Sự giận dữ đối với báo chí của người khai sinh ra “Đế chế Tự Do” Hoa Kỳ từ 300 năm trước cho thấy khía cạnh tích cực: báo chí đã thể hiện quyền lực thứ 4 của mình mạnh tới mức khiến một Tổng thống cũng không thể yên thân. Nhưng sẽ ra sao nếu hiểu theo cách tiêu cực, báo chí đã lạm dụng quyền lực tự do của mình để phê phán mù quáng và xâm phạm sai trái lợi ích của người khác?

Câu hỏi ấy cần sự phân định rõ ràng bởi đúng như câu nói của Joseph Pulitzer mà Nick Davies đã dùng để kết thúc cuốn sách của mình: “Một nền báo chí bất cần đạo lý, đánh thuê, mị dân, tha hóa sẽ dần tạo ra một dân tộc như chính nó.”

Khánh Duy

Thứ Bảy, 16 tháng 7, 2011

“Ngợp” trong thành phố lớn thứ hai thế giới thời La Mã





Trải qua 3000 năm lịch sử, sự rộng lớn và tinh xảo của những phế tích ở Ephesus còn khiến du khách bị ngợp hơn cả khi thăm những phế tích của cả Hy Lạp lẫn La Mã cổ đại ở Athens và Rome.

Dấu tích còn lại của nền văn minh Hy Lạp là thành cổ Acropolis ở thủ đô Athens và dấu tích của văn minh La Mỹ là khu vực Quảng Trường La Mã ở Rome. Nhưng cả hai địa danh lịch sử ấy đều đã chỉ còn là những cột đá ngổn ngang và đổ nát trong hoang phế. Thật bất ngờ, dấu vết “hoành tráng” của văn minh của Hy Lạp và đặc biệt là La Mã lại không phải ở nơi khai sinh ra nó mà lại ở khu vực gần thành phố biển Kusadasi, Thổ Nhĩ Kỳ.

Trung tâm của toàn bộ khu vực ấy là một thành phố cổ có tên Ephesus, toàn bộ khu khảo cổ Ephesus trải dài trên một con đường 3Km với nhiều phế tích của các Cung điện, Nhà tắm, Quảng Trường, Đại lộ, Khu chợ, Nhà hát lớn, Sân Vận động và thậm chí cả những Nhà vệ sinh công cộng từ thời La Mã.

Không di sản La Mã nào trên thế giới còn lưu giữ được lại rộng lớn hơn về quy mô như ở Ephesus. Vào thời kỳ đế chế La Mã hưng thịnh, Đây là thành phố La Mã lớn thứ hai chỉ sau Rome và cũng là thành phố lớn thứ hai thế giới thời kỳ đó.

Tuy thế, lịch sử của Ephesus không bắt nguồn từ La Mã mà khởi thủy xa hơn thế. Ephesus là vùng đất được tìm thấy đầu tiên bởi người Amazon và sau đó nhiều bộ lạc địa phương như Carian và Lelegean đã sinh sống tại đây. Tuy nhiên, giữa những bộ lạc sinh sống tại khu vực duyên hải phía Tây này lại hoàn toàn không có sự thống nhất ngay cả về mặt ngôn ngữ dẫn tới việc Ephesus rơi vào tay người Hy Lạp vào khoảng thế kỷ 10 trước Công nguyên.

Thành phố này đã nổi tiếng từ thời thời cổ đại bởi có Ngôi đền thờ thần Artemis nổi tiếng, một trong bảy kỳ quan thế giới cổ đại. Vào thế kỷ thứ 3, Alexander Đại Đế thống trị Hy Lạp và Châu Âu. Vị Hoàng Đế này chiếm được Ephesus vào năm 334 trước Công nguyên và đưa thành phố này vào kỷ nguyên vàng trong lịch sử của nó với dân số lên tới 300 000 người. Năm 130 trước Công nguyên, người La Mã chiếm được toàn bộ khu vực Tiểu Á và thành phố Ephesus trở thành thủ đô cũng như đô thị lớn nhất Tiểu Á với dân số lên tới 200 000 người.

Nằm ngay dưới chân những quả đồi thấp và ở một khu vực địa lý sát bờ biển, miền đất Ephesus trù phú và phì nhiêu với khí hậu luôn mát mẻ và trong lành. Miền đất lành ấy cũng là nơi chứng kiến sự lan tỏa mạnh mẽ của đạo Cơ Đốc. Không xa so với Israel nơi Chúc Jesus đã ra đời và phục sinh, hai tông đồ của ông là Thánh John và Thánh Paul đều đã dành phần nhiều thời gian của mình để tới đây thuyết pháp. Cơ Đốc giáo nhanh chóng trở thành tôn giáo chủ đạo ở Ephesus và người dân tụ tập quanh ngọn đồi Ayasuluk nơi Nhà thờ thánh John tọa lạc.

Đặc biệt nhất trên ngọn đồi ngay sát Ephesus còn có căn nhà nơi Đức Mẹ Maria tương truyền đã sống và qua đời. Căn nhà nhỏ giữa núi đồi ngân vang tiếng kinh cầu buổi sáng trong trẻo tạo cho du khách một cảm giác rất dễ chịu. Ephesus không chỉ là lịch sử, nơi đây xứng đáng được coi là một điểm du lịch hành hương tôn giáo đối với những người theo đạo Cơ Đốc.

Ephesus giảm dần kích thước lẫn dân số của nó cùng với đà suy vong của đế chế La Mã và trở thành một nơi hoang phế khi đế chế Ottoman bắt đầu thống trị Thổ Nhĩ Kỳ. Tuy đã bị bỏ hoang hàng trăm năm, nhiều di tích quan trọng trong lịch sử kinh qua cả hai đế chế Hy Lạp và La Mã ở Ephesus vẫn giữ được hình hài tương đối so với những di tích tương tự trên thế giới.

Điển hình nhất trong số đó là Thư viện Celsus, điểm gần cuối trên con đường di sản Ephesus. Tòa nhà này được xây như một lăng mộ vĩ đại vào năm 117 trước công nguyên bởi quan chấp chính tối cao La Mã Julius Aquila nhân danh cha mình là Celsus Polamaeanus. Tòa nhà này về sau được sử dụng với cả chức năng hầm mộ lẫn thư viện nơi những cuộn giấy được lưu trữ trong những hốc tường. Mặt trước cổng Thư viện là 4 bức tượng nữ nhân biểu trưng cho 4 đặc điểm của Celcus: trí tuệ, đức hạnh, thông minh và học thức.

Trải qua 3000 năm lịch sử, sự rộng lớn và tinh xảo của những phế tích ở Ephesus còn khiến du khách bị ngợp hơn cả khi thăm những phế tích của cả Hy Lạp lẫn La Mã cổ đại ở Athens và Rome.

Duy Khánh

Thứ Tư, 13 tháng 7, 2011

Bơi giữa những đổ nát ở "thành phố chết"





Một thành phố nơi người ta tới để được… “chết”, không phải để tự tử, bạn đừng nhầm, nơi ấy, người ta tới để trị liệu và làm dịu nỗi đau bệnh tật trước khi qua đời. Đó chính là thành phố cổ Hierapolis ở một khu vực thiên nhiên nằm ở tỉnh Denizli, Tây Nam Thổ Nhĩ Kỳ. Khu vực thiên nhiên vẫn được gọi bằng cái tên quen thuộc Pamukkale hay Lâu Đài Bông.

“Thành phố chết” Khi người dẫn chương trình Ilknuk nói với chúng tôi chi tiết ấy, chúng tôi đã bật cười. “Tớ còn yêu cuộc sống lắm, chưa muốn chết.” Tôi quay sang đùa Ilknuk. “Không, một thành phố chết nhưng mọi người sống đều muốn đến. Ở đó có rất nhiều cô gái Nga xinh đẹp, các bạn sẽ thấy.”

Cuối cùng thì Pamukkale đã hiện ra, xóa đi đôi chút sự tò mò của chúng tôi, một mảng núi trắng lấp lóa trải dài như một dải lụa trong ánh sáng của những tia nắng cuối chiều. Cũng khá hùng vĩ nhưng chưa có gì ấn tượng, thị trấn khá vắng vẻ và yên ả. Cảm giác đầu tiên: một nơi lý tưởng để thư giãn và nghỉ ngơi hơn là du lịch.

Sự thực, nơi đây đã từng là nơi thư giãn hoàn hảo từ thời cổ đại chứ không phải bây giờ và chuyện người ta tới đây để “chết” là câu chuyện có thật của lịch sử. Nhưng đến với Pamukkale những ngày nay chỉ có khách du lịch chứ không phải bệnh nhân. Pamukkale có gì mà hấp dẫn tới vậy, câu trả lời đến với chúng tôi khi trực tiếp leo lên đỉnh núi để thăm quan thành cổ vào buổi sáng hôm sau.

Ấn tượng đầu tiên khi bước chân vào khu du lịch Pamukkale là các suối nước nóng trên nền những dãy đá vôi lắng động hàng triệu năm bởi dòng chảy suối khoáng. Pamukkale có khoảng 17 suối khoáng với nhiệt độ từ 35 tới 100 độ C. Các suối khoáng trên nền đá vôi xếp tầng tầng lớp lớp trông rất ngoạn mục.

Các nhà sử học cho rằng các suối khoáng này chính là lý do khiến từ hơn 2000 năm trước, người dân đã về đây để tắm với mục đich thư giãn, làm dịu nỗi đau bệnh tật. Những bệnh nhân từ thời La Mã đã về đây tĩnh dưỡng và thậm chí qua đời khiến nơi này hiện còn rất nhiều những ngôi mộ. Cái tên thành phố chết xuất phát từ đó.

Tuy nhiên, giờ đây, thành phố chết lại trở thành một trung tâm du lịch sôi động xôn xao tiếng trẻ em và hình ảnh những cô gái mặc bikini từ khắp nơi, đặc biệt từ Nga và Đông Âu. “Không có mấy cô Nga mặc bikini tắm trên các suối khoáng lộ thiên này, Pamukkale mất một nửa giá trị.” Anh bạn đi cùng chúng tôi bình luận trên con đường “lội nước” men theo các lớp suối khoáng.

Mất tới 30 phút đi bộ bằng chân đất dọc theo lớp suối khoáng, chúng tôi trở ra và bắt đầu đi ngược lên khu thành cổ phía trên. Thành phố cổ Hierapolis được xây dựng ngay trên đỉnh của Pamukkale có chiều dài 2700 mét và chiều rộng 600 mét. Hiện có rất ít bằng chứng lịch sử về nguồn gốc của thành cổ này. Tuy nhiên, khi người La Mã chiếm được thành phố này vào khoảng thế kỷ 2 trước công nguyên, thành phố đã biến chuyển từ từ trở thành một thị trấn mang phong cách La Mã.

Người La Mã đã xây dựng ở thành phố này nhiều công trình quan trọng để phục vụ cho nhu cầu trị liệu bằng suối nóng ở đây bao gồm: nhà tắm kiểu La Mã, trường huấn luyện thể dục, một vài đền thờ và một khu phố chính với những hàng cột và đài phun nước. Đặc biệt là một nhà hát khổng lồ với sức chứa 15 000 chỗ ngồi. Những công trình chứng tỏ Hierapolis đã từng là một thành phố nổi bật dưới thời đế chế La Mã với dân số lên tới 100 000 người và thương mại phát triển mạnh.

Tuy nhiên, những trận động đất mạnh ở thế kỷ 7 và đặc biệt ở thế kỷ 14 đã phá hủy toàn bộ thành phố và chôn vùi nó dưới một lớp đá vôi dày. Những cuộc khai quật từ giữa thế kỷ 20 bắt đầu trả lại gương mặt đã mất cho Hierapolis. Những hàng cột của khu phố chính được dựng lại, nhiều ngôi nhà từ thời Byzantine được đào lên và một viện bảo tàng được xây trên nền Nhà tắm của La Mã cũ.

Du lịch tới Hierapolis quá phát triển vào cuối thể kỷ 20 khi những suối nóng ở đây trở nên nổi tiếng. Người ta bắt đầu xây dựng hàng loạt khách sạn hiện đại ngay trên đỉnh thành cổ, dẫn tới sự phá hại không nhỏ cảnh quan thiên nhiên nơi đây.

Những năm gần đây, những khách sạn này đã được dỡ bỏ, trả lại cho thành cổ sự yên tĩnh vốn có của nó. Tuy nhiên, bể bơi nước nóng của một khách sạn vẫn được giữ lại để du khách có cơ hội bơi trên những đổ nát của thành phố La Mã cũ. Khuôn viên của bể bơi La Mã ấy là một không gian “tiên cảnh” nơi những cô gái Châu Âu bơi tung tăng trên những phiến đá và cột đá vụn vỡ của cổ thành.

Bể bơi trên nền đổ nát được viền quanh bởi những cây trúc đào hồng rực ấy là điểm nhấn cuối cùng và ấn tượng bậc nhất cho mỗi du khách từng đặt chân tới Pamukkale.

Duy Khánh

Thứ Ba, 12 tháng 7, 2011

Miền đất được “vẽ” bằng phun trào núi lửa







Những thành phố được xây trên nền và dưới lòng đất đá và tro bụi núi lửa phun trào từ ít nhất 2 triệu năm về trước. Sự độc đáo ấy nằm ở một khu vực địa chất kỳ thú có tên Cappadocia, miền Trung Thổ Nhĩ Kỳ.


Cappadocia không phải là một thành phố, chính xác đó là một vùng lãnh thổ nằm giữa các thành phố ở miền trung Thổ Nhĩ Kỳ như Aksasay, Nigde, Nevsehir và Keyseri. Vùng lãnh thổ có cái tên lịch sử Cappadicia ấy luôn là điểm đến ưu tiên của mọi tour du lịch Thổ Nhĩ Kỳ bởi cấu tạo địa chất độc nhất vô nhị làm sững sờ mọi khách thăm.

Thành phố trên đá núi lửa


Đi vào Cappadocia là bạn đang đi trên một tầng đất đá, dung nham, tro bụi và cặn núi lửa còn sót lại từ hàng triệu năm về trước. Cấu tạo địa chất của kỳ quan thiên nhiên thế giới Cappadocia là kết quả của hai lực lượng tự nhiên đối nghịch. Lực lượng thứ nhất là những đợt phun trào của núi lửa từ khoảng Kỷ thứ 3, tức cách thời điểm chúng ta đang sống từ 50 tới 2 triệu năm. Lực lượng thứ hai là sự xói mòn lãnh thổ xảy ra sau khi các đợt phun trào của núi lửa đã kết thúc.

Núi lửa và xói mòn đã để lại một “bình nguyên” với những “cánh rừng” bạt ngàn. Không phải bình nguyên mang màu xanh hoa cỏ mà một bình nguyên vàng nhạt của đất đá núi lửa. Không phải một cánh rừng cây cối um tùm mà là một rừng của những cột đá hình tháp nhọn xếp lớp và trải dài mênh mông.

Lớp đất đá và dung nham phun trào từ núi lửa luôn mềm và dễ tạo hình hơn đất đá thông thường. Vì thế, ở Cappadocia, trong hàng ngàn năm qua, con người đã đẽo vào những đồi đá và cột đá để tạo thành nơi cư trú cho riêng mình. Những hốc nhà nhỏ xinh trong đá núi lửa là một đặc trưng lạ và hiếm của mảnh đất này.

Cao điểm nhất trong toàn bộ bình nguyên đá Cappadicia là Uchisar, hay còn được người dân ở đây gọi là Pháo đài. Đó là hai cột đá khổng lồ được viền quanh bởi những cột đá nhỏ hơn, trông giống một ngọn tháp. Người dân đã đào vào đá để cư trú trong ngọn tháp này suốt từ thời Byzantine cho tới thời Ottoman, tức khoảng 1500 năm. Họ tiếp tục sống như vậy và chỉ phải rời khỏi “ngôi nhà” của mình vài chục năm trước do đá bị xói mòn.

Cơ Đốc giáo trong lòng đá núi lửa


Thành phố cổ nhất của khu vực Cappadocia là Gorome, còn có tên là thành phố Macan trong quá khứ. Người bản địa sống trong những căn phòng được đào sâu trong núi đá và không gian thành phố được bao bọc bởi những lớp đá cao.

Điểm đặc biệt nhất của thành phố này là có rất nhiều nhà thờ trong hang đá, một cách để người bản địa theo đạo Thiên Chúa che giấu niềm tin của mình trước sự cấm đoán. Đa phần các nhà thờ ở Gorome đều nhỏ và chỉ có một phòng đơn, nhưng những bức họa về Đức Jerus và các điển tích Kinh thánh được vẽ trang trí cho thấy sự phát triển mạnh của Đạo Cơ Đốc ở khu vực này từ khoảng thế kỷ 7. Hiện chưa xác định rõ sự phát triển ấy kết thúc vào năm nào nhưng từ khoảng thế kỷ 11, rất ít nhà thờ mới được xây dựng. Với di sản địa chất, lịch sử và tôn giáo của mình, Gorome được gọi là “Bảo tàng mở ngoài trời” của Cappadocia.

Thung lũng của nấm bằng đá núi lửa

Nhưng di sản ngoài trời ấn tượng nhất ở Cappadocia phải là Thung lũng nấm. Cấu tạo nổi bật nhất ở đây là những hình nấm như trong cổ tích. Hàng loạt những cấu trúc nấm xếp liền nhau tạo thành những thung lũng nấm đẹp hùng vĩ.

Những hình nấm này chính là sản phẩm địa chất hình thành trong hàng triệu năm. Phun trào núi lửa đã tạo ra hàng loạt hình nón với đá tuff ở dưới và phủ bên trên là lớp đá magma bazan hoặc andesite. Lớp đá magma bazan có thể tạo thành những cột lớn hình nón hoặc tạo ra mỏm đá hình nón bên trên lớp đá tuff. Có những cột đá đội nón bazan cao tới 40 mét.

Theo thời gian, hiện tượng xói mòn bắt đầu làm mỏng đi lớp đá tuff mềm hơn phía dưới phần nón bazan cứng bên trên. Sự xói mòn này tạo ra những cột đá đội nón như những chiếc nấm tự nhiên độc đáo.

Thành phố ngầm dưới lòng đá núi lửa

Không chỉ đẽo đá trên mặt đất để cư trú, người Cappadocia còn đào xuống dưới lòng đất để tạo ra ra những thành phố ngầm, có khoảng 40 thành phố ngầm như thế liên thông với nhau.

Những thành phố ngầm này có 8 tới 9 tầng được đào sâu hơn 80 mét xuống lòng đất, chính xác hơn là được đào trên lớp đá tuff phun trào từ núi lửa. Những thành phố ngầm tạo ra một mê cung với hàng loạt những phòng ốc, đường đi hẹp và hệ thống dấn khí.

Các nhà sử học cho rằng người bản địa Cappadicia đã liên tục phải đối mặt với các cuộc tấn công và cướp bóc của người Ba Tư phương Đông và người Arập phương Nam từ thế kỷ thứ 7. Chính vì thế, họ đã phải xây những thành phố ngầm dưới đá núi lửa này để trú ẩn.

Thành phố ngầm Kaymakli mà chúng tôi tới thăm cách Nevsehir 20Km về phía Nam. Thành phố này dự tính được xây từ khoảng thế kỷ 6 đến thế kỷ 10 trong thời gian bị người Ba Tư và Arập tấn công. Thành phố rộng tới 2,5 Km vuông với đầy đủ những phòng ở, nhà thờ, hầm mộ, kho chứa, nhà sản xuất rượu và phòng bếp.

Sự rộng lớn và kích thước đa dạng của các phòng ốc trong thành phố ngầm chứng tỏ nó đã là nơi trú ẩn của không ít người nhưng các nhà sử học vẫn khó xác định chính xác niên đại cũng như thành phần cư trú, bởi không hề có một hình vẽ nào trên các bức tường đá.

Lịch sử Cappadocia còn nhiều bí ẩn chưa được khám phá hết, chỉ có một điều chắc chắn, lịch sử ấy đã được “vẽ” bởi những phun trào núi lửa. Chỉ điều ấy cũng đủ để mỗi năm 30 triệu lượt khách đổ về Thổ Nhĩ Kỳ không thể quên tới thăm Cappadocia.

Duy Khánh

Thứ Hai, 11 tháng 7, 2011

“Quyền lực thì đứng, quyền uy thì ngồi”


“Quyền lực thì đứng, quyền uy thì ngồi.” Những dòng tít trên chiếc standy giới thiệu về triển lãm “Ngai vàng của những ông hoàng” tại cung điễn Versailles nước Pháp làm người xem tò mò. Tại sao người Pháp lại trưng bày một triển lãm chỉ để đi tìm sự khác biệt giữa quyền lực và quyền uy?

Đó là thứ 3. Một ngày thường. Không vì thế mà cung điện Versailles vắng khách. Không có những di sản đặc biệt quý hiếm như Louvre, Versailles có những không gian hấp dẫn của riêng nó. Một giá trị gia tăng khác, từ ngày 1 tháng 3 tới 19 tháng 6 năm nay, những gian phòng của Versailles giành để trưng bày những chiếc ngai vàng từ khắp nơi trên thế giới.

Từ năm châu bốn biển, ngai vàng tụ tập cả về Versailles: ngai của lãnh tụ Inca ở Peru (Châu Mỹ) , ngai của vua Ghezo (vương quốc Dahomey) ở Benin (Châu Phi), ngai của Hoàng đế đào hoa Càn Long ở Trung Quốc (Châu Á), ngai của Louis XVI, ông vua bị đưa lên máy chém bởi cách mạng Pháp (Châu Âu)…

Đa dạng về không gian, đa dạng cả về thời gian. Chiếc ngai cổ nhất là của nước Marsch thuộc Đức thế kỷ thứ 5, rồi tới ngai của ông hoàng Dagobert nước Pháp thế kỷ thứ 7, gần đây nhất là chiếc ghế tổng thống Pháp Jacques Chirac đã ngồi để chiêm ngưỡng lễ mừng quốc khách 14 tháng 7 năm 2005…

Versailles đã mất công đi mượn từ các lâu đài, cung điện, bảo tàng ở khắp nơi trên thế giới để có được cuộc triển lãm kéo dài gần 4 tháng này. Cuộc triển lãm ngoài mục đích trình diễn “ngai vàng” để “mua vui” còn muốn đi tìm ý nghĩa thực của hai chữ “quyền uy” như cuốn sách giới thiệu về nó viết: “Từ Dagobert tới Pius VI, từ Hoàng đế Trung Quốc tới Sa hoàng Nga, những chiếc ngai bao giờ cũng đi đôi với uy quyền. Chế độ này hay chế độ khác, châu lục này sang châu lục khác, hình dáng có thể đổi thay nhưng chức năng của những chiếc ngai không hề thay đổi…”

Quyền uy ổn định, quyền lực mong manh

Hàng ngàn năm trước, người Hy Lạp cổ đại đã phân biệt giữa hai khái niệm mang tính bản chất cùng ám chỉ sự vận dụng quyền năng: quyền lực (power) và quyền uy (authority).

Quyền lực đi đôi với sức mạnh, một ông vua dùng sức mạnh để đàn áp người dân hay chiếm đoạt lãnh thổ của các quốc gia khác là một ông vua có quyền lực. Quyền lực thường biểu trưng bằng hình tượng đứng. Người “anh hùng” ấy sau trận thắng trở về thường đứng thẳng người để các thần dân xung quanh tung hô, hình ảnh đó tượng trưng cho sức mạnh của quyền lực. Xét về khía cạnh ổn định, quyền lực khá mong manh và rất dễ đổi thay.

Quyền uy cũng là một thứ quyền lực nhưng đi kèm với nó là một vị thế mang tính pháp lý và tinh thần lớn hơn. Chính vì thế, quyền uy có tính bền vững và chắc chắn hơn quyền lực. Quyền uy luôn đi kèm với hình tượng ngồi. Cảnh tượng ông vua ngồi trên chiếc ngai vững chãi và to lớn của mình mô tả đúng bản chất của hai chữ quyền uy.

“Khi cách mạng Pháp chấm dứt chế độ quân chủ, người ta đổi tên Quảng trường Ngai vàng thành Quảng trường Lật đổ Ngai vàng. Không giây phút nào trong lịch sử mà nền tảng và sức mạnh của biểu tượng ấy bị lãng quên. Khi Napoleon hồi phục lại nền quân chủ, ông ấy đã nhanh chóng tái lập lại những nghi thức và lễ lạt của nó trong đó có việc sử dụng lại ngai vàng đã bị xóa bỏ nhân danh sự bình đẳng trong Cách mạng.” Ông Jean Jacques Aillagon, giám đốc bảo tàng Versailles nói.

Những chiếc ngai vàng là biểu tượng hợp lý của quyền uy, không chỉ trong chính trị mà cả ở những lĩnh vực khác như tôn giáo hay tri thức. Quyền uy không chỉ mang tính “vật chất” mà tồn tại ở cả địa hạt tinh thần. Minh hoạ cho ý tưởng đó, bảo tàng Versailles không chỉ triển lãm ngai vàng của các ông hoàng mà còn triển lãm cả những bức tượng của các lãnh tự tôn giáo Đông Tây đang ngồi trên “ngai vàng” của mình. Bức tượng Phật ngồi bằng đồng Gandhara từ thế kỷ thứ 3 và bức tượng Đức Chúa Jesus năm 1230 đều được trưng bày lần này. Hai chiếc ngai thật của hai giáo hoàng Innocent X và Pius VI cũng được sắp xếp ở các vị trí quan trọng.

Quyền lực di chuyển, quyền uy đứng yên

Điểm đặc biệt của bộ sưu tập này là các “ngai vàng di động” như của Napoleong III, giáo hoàng Pius VII hay triều đại Habsburg cuối thế kỷ 18. Khi các ông hoàng phải di chuyển từ nơi này sang nơi khác, để đảm bảo vị thế uy nghi của mình, họ vẫn sử dụng những chiếc ngai di động được hầu cận khiêng vác hoặc đặt trên lưng những động vật to khoẻ như voi hay lạc đà.

“Quyền lực có thể di chuyển nhưng quyền uy thì luôn ngồi vững chãi. Làm thế nào để có thể tương thích hóa tính cố định và vững chắc của quyền uy với sự chuyển động của người nắm uy quyền. Cách thức đơn giản nhất là đặt họ lên những chiếc ngai di động. Như thế, bản chất ung dung và thường hằng của quyền uy vẫn được giữ vững.” Ông Jean Jacques Aillagon phân tích.

Quyền uy quan trọng đặc biệt với những bậc nguyên thủ. Trong lịch sử, khi tới Boulogne để chuẩn bị tấn công nước Anh, Napoleon đã mượn chiếc ngai vàng của hoàng tộc lâu đời nhất nước Pháp Dagobert nhằm chứng minh tính chính đáng trong quyền uy của ông. Những chiếc ngai thường được đặt trên bệ cao để chứng minh cho sự vượt trội và thống trị của nguyên thủ so với thần dân.

Quyền uy đích thực không cần biểu tượng hình thức

Điều ngạc nhiên là ngay ở Versailles nhưng chiếc ngai bạc của chủ nhân cung điện, ông vua mặt trời Louis XIV, lại không thấy đâu. Hóa ra, chiếc ghế bạc ấy đã được chính chủ nhân của nó ra lệnh đốt cùng với nhiều đồ bạc khác vào năm 1689 để trả chiến phí.

Được quyết định khởi công từ năm 1666 bởi Vua mặt trời, Versailles đã trở thành cung điện hoàng gia vĩ đại nhất thế giới và cũng là một trong số ít cung điện không có thành lũy. Vua Louis XIV đã xây hoàng cung giữa đồng trống, để chứng tỏ một đấng quân vương đủ quyền uy không cần đến hào và tường thành bảo vệ. Vua mặt trời được người đời ngợi ca là vị hoàng đế lỗi lạc nhất trong lịch sử nước Pháp cho dù biểu tượng hình thức của uy quyền là chiếc ngai vàng ông cũng sẵn sàng để vứt nó đi.

Khánh Duy

Thứ Tư, 15 tháng 6, 2011

Bữa cơm gà với “trùm khủng bố” ở Palestine






Cuối cùng thì “tên khủng bố” cũng hiện ra trước mắt chúng tôi, ngay ở cổng biệt thự của ông ở vùng ven thành phố Jericho. Xộc xệch trong chiếc áo phông xanh da trời và chiếc quần kaki đã cũ, Abu Sharif chào đón nhóm nhà báo Việt Nam bằng một nụ cười hài hài và hiền hiền trông rất giống Mr Bean….

Bassam Abu-Sharif. Thử google cái tên ấy, kết quả tìm kiếm bạn nhận được sẽ rất nhiều. Tiểu sử của ông trên Wikipedia, những bài trả lời phỏng vấn trên BBC, New York Times, Al Jazeera, những cuốn sách do Bassam viết trên Amazon… Một núi thông tin dễ khiến những người muốn tìm hiểu về ông nản lòng…

Vậy Bassam Abu-Sharif thực chất là ai? Đơn giản thế này, chúng tôi tạm giở cuốn sách “Arafat và giấc mơ của Palestine” mà Đại sứ Saadi đã tặng trước đó và dịch nguyên văn câu mở đầu ngay trên bìa gấp: “Bassam Abu Sharif là một trong những tên khủng bố khét tiếng và nguy hiểm bậc nhất trên thế giới vào những năm 60 và 70 của thập kỷ này….”

“Hôm nay, chúng ta sẽ tới nhà ăn cơm với Abu Sharif. Có bể bơi ở đó, các bạn có thể mang theo đồ bơi nếu muốn.” Đại sứ Saadi dặn dò. Đến nhà “trùm khủng bố” để ăn cơm và ....“bơi”. Thì đi, “In Sha’allah, Ma’alesh”, chúng tôi đã học được mấy câu cửa miệng của người Arập: “Nếu thánh Allah cho phép, không sao cả.”

Cuối cùng thì “tên khủng bố” cũng hiện ra trước mắt chúng tôi, ngay ở cổng biệt thự của ông ở vùng ven thành phố Jericho. Xộc xệch trong chiếc áo phông xanh da trời và chiếc quần kaki đã cũ, Abu Sharif chào đón nhóm nhà báo Việt Nam bằng một nụ cười hài hài và hiền hiền trông rất giống Mr Bean.

“Abu Sharif là một người tôi vô cùng kính trọng về tinh thần đấu tranh, ông từng là cố vấn thân cận của Chủ tịch Arafat. Có những thời điểm ông được coi là nhân vật số 2 để thay thế Chủ tịch Arafat trong Tổ chức giải phóng Palestine PLO.” Đại sứ Saadi Salama giới thiệu.

Trùm khủng bố. Cố vấn cho Chủ tịch Arafat. Nhân vật số 2. Quá nhiều danh xưng và chúng tôi bắt đầu rối trí và tò mò về người đàn ông này. Chưa hết, Đại sứ Saadi lại dặn riêng tôi: “Chút nữa phỏng vấn, nhớ hỏi tại sao ông lại từ bỏ việc học ở Đại học Mỹ để đi theo con đường cách mạng nhé.” Cùng lúc, trợ lý của Abu Sharif đã đi xuống mang theo một chồng sách tặng chúng tôi, mỗi người hai cuốn với tựa “Điều đẹp nhất của những kẻ thù” và “Arafat và giấc mơ của Palestine.”

“Abu Sharif viết trực tiếp bằng tiếng Anh đấy, cả hai cuốn. Ông thông thạo nhiều thứ tiếng. Ông từng đóng vai trò “Bộ trưởng Tuyên truyền” trong Mặt trận dân tộc giải phóng Palestine PFLP.” Đại sứ Saadi giới thiệu tiếp.

Học giả lớn. Nhà cách mạng. “Bộ trưởng” nữa. Lại thêm những danh xưng nữa cho Abu Sharif. Quá nhiều để không biết gọi ông là gì? Chúng tôi liếc nhanh hai cuốn sách của Abu và đập vào mắt là một câu ghi ngay trên bìa của cả hai cuốn: “Người đàn ông này từng được tạp chí TIME gọi bằng cái tên “Gương mặt Khủng bố””

Rốt cục, “Gương mặt Khủng bố” cũng thanh thản ngồi xuống cạnh chúng tôi vẫn với nụ cười của Mr Bean, rất hài hước và hiền lành. Chỉ cho đến khi quan sát kỹ gương mặt ấy, chúng tôi mới thấy những dấu vết của “khủng bố” theo đúng nghĩa đen của nó. Gương mặt Abu Sharif đen sạm, lỗ chỗ, một con mắt bất động hoàn toàn và tai bên phải gắn kèm một nút nhựa trắng, có thể đó là chiếc máy nghe điếc.

“Tôi vẫn làm việc ít nhất 15 tiếng một ngày với chỉ một mắt mà chính xác ra là nửa mắt, và một tai chỉ có thể nghe được bằng nửa tai.” Abu Sharif tâm sự.

Người đàn ông chỉ còn “nửa mắt và nửa tai” bắt đầu nói bằng một thứ tiếng Anh sôi nổi, rõ ràng, chuẩn mực và cực kỳ logic. Dưới cặp kính nâu, không còn đôi mắt tinh anh nữa nhưng từ con người thương tật đầy mình ấy vẫn toát ra một “charisma”, một thần thái cuốn hút và hấp dẫn người khác của lãnh tụ.

“Nguy hiểm hơn bom tấn”


Năm 1967, Abu Sharif tốt nghiệp thạc sỹ tại Trường Đại học Mỹ ở Beirut, Lebanon. Đó cũng là thời điểm Israel chiếm đóng Jerusalem, Bờ Tây, Gaza, Sinai và Cao nguyên Golan. Dù đã có học bổng tới Canada, Abu Sharif từ bỏ con đường học thuật để tham gia cách mạng sau khi nhìn thấy những người Palestine tị nạn, “không nhà cửa, không tự do, không quê hương và không phẩm giá” ở Jordan.

“Tấm bằng tiến sỹ không đem đến cho tôi phẩm giá, không mang lại cho tôi Giấy chứng minh là một con người. Tôi quyết định chỉ có một con đường, đó là đấu tranh để giành lại tự do cũng có nghĩa là giành lại phẩm giá. Tôi muốn trở thành một chiến binh giải phóng cho Palestine cũng chính là giải phóng cho bản thân mình, trả lại cho bản thân giá trị của một con người đích thực.”

Abu Sharif bắt đầu kể cho chúng tôi nghe về giai đoạn thanh niên của ông, giai đoạn ông đã dừng việc học tập để đồng sáng lập Mặt trận dân tộc giải phóng Palestine (PFLP), một tổ chức chính trị theo khuynh hướng Marxist, lấy chủ nghĩa duy vật biện chứng là nền tảng phân tích.

PFLP đã thực hiện vụ “không tặc” Dawson’s Field chấn động thế giới năm 1970, khi “đánh cắp” đồng loạt 5 máy bay khởi hành từ các địa điểm ở Châu Âu và Trung Đông tới New York. Các máy bay này và con tin được đưa đến một địa điểm trên sa mạc ở Jordan, 310 con tin được thả ngay sau đó nhưng phi hành đoàn và các hành khách Do Thái gồm 56 người đã bị giữ lại. Abu Sharif lúc đó đóng vai trò Bộ trưởng Thông tin của PFLP đã ra tuyên bố: mục tiêu của cuộc không tặc này là “buộc Israel phải thả những tù nhân chính trị đang bị giam giữ để đổi lấy các con tin.”

Vụ không tặc đình đám này đã chụp lên đầu Abu Sharif cái mũ “Gương mặt khủng bố”. Không chỉ thế, vào một buổi sáng của năm 1972, một bưu kiện được gửi đến cho Abu Sharif. Ông mở nó ra và run lên vì mừng rỡ. Trong bưu kiện là cuốn sách về người anh hùng cách mạng Che Guevara của Châu Mỹ, một cuốn sách Abu Sharif đã chờ đợi biết bao lâu để đọc nó. Nhưng ông vừa mới lật trang thì phát hiện cuốn sách được khoét rỗng, bên trong chứa hai tuýp thuốc nổ màu nâu.

“Khoảnh khắc tiếp nối, tôi như cảm thấy bị rơi vào căn hầm sâu hút và tối tăm của sự im lặng kinh hoàng. Tôi nghĩ mình đang chết. Tôi cảm thấy cái gì đó ẩm ướt đang chảy ròng trên khuôn mặt và bàn tay tôi, đó là máu. Tôi cảm thấy con ngươi mắt phải của mình đang lủng lẳng dưới má như một giọt nước mắt to. Tôi chết lặng đi và sau đó là một cơn đau khủng khiếp...”

Đó là một cơn ác mộng mà Abu Sharif vẫn nhớ rõ từng chi tiết cho dù đã gần 40 năm trôi qua. Chàng trai 26 tuổi đã mất một con mắt, một bên tai và bốn ngón tay vì quả bom thư ấy. Khi được hỏi tại sao người ta lại muốn giết ông, Abu Sharif dựng thẳng người lên, nheo nheo con mắt còn lại đầy hài hước:

“Sao anh lại hỏi tôi, hãy đem câu hỏi ấy tới người phụ trách lực lượng Mossad của Israel lúc ấy chứ. Tôi cho anh tên và số điện thoại của ông ấy nhé. Ông ấy hiện là giám đốc một công ty ở Tel Aviv. Đã từng có lần, một số nhà báo Israel mời tôi tới ăn tối tại Tel Aviv. Họ nảy ra ý định gọi cả ông ấy tới để cho thế giới thấy hai kẻ thù xưa giờ đã bắt tay nhau. Ông ấy trả lời thế này: Ôi các nhà báo ngu ngốc, các bạn chưa hiểu Basam Abu Sharif là ai. Ông ta còn nguy hiểm với Israel hơn bom tấn. Nếu tôi có thể giết ông ta vào ngày mai, tôi vẫn sẽ làm như thế...”

“Gương mặt của hòa bình”


Basam Abu Sharif “bốc” một chiếc đùi gà vào đĩa của mình. Ông lặng lẽ ăn ngon lành như như thể không có ai ở xung quanh, ngây ngô và hiền lành như một đứa trẻ. Ông ăn bằng hai bàn tay với những ngón cụt lủn của mình. Bàn tay dù cụt lủn ấy vẫn chưa bao giờ ngừng viết những sự thật về cuộc xung đột trên quê hương mình. Basam Abu Sharif “nguy hiểm” bởi ngòi bút chứ không phải bởi “cây súng”, nhưng “trùm khủng bố” không bao giờ khuyên người Palestine buông súng:

“Chúng tôi phải tự giành lấy tự do cho mình cho dù phải giành lấy bằng đá. Nỗ lực để được Liên Hợp Quốc công nhận là một nhà nước độc lập trên danh nghĩa là có thể nhưng đó chỉ là một cuộc chơi chính trị. Nhưng trên thực tế, cần có một nỗ lực có tổ chức để chống lại và đuổi quân chiếm đóng khỏi lãnh thổ của chúng tôi. Độc lập không phải cái được cho, đó là cái phải giành lấy. Người Việt Nam là một minh chứng cho điều đó...”

Basam Abu Sharif lấy lại cách nói chuyện “sục sôi” của mình sau giờ ăn trưa. Ông mang xuống một chai whiskey và bắt đầu uống. Nhà cách mạng lão làng này của Palestine là một người mê rượu, lửa cách mạng và men rượu sẵn trong máu của Abu Sharif bắt đầu tỏa mạnh hơn. Và chúng tôi cảm nhận được sức lan tỏa đó qua từng lời nói của Abu Sharif, dõng dạc và mạch lạc. Mỗi câu nói như một câu văn viết, đó là phẩm chất của nhà chính trị.

“Một ai đó vào nhà bạn, bắn súng vào con em bạn. Bạn có quyền giết anh ta. Tôi chờ đợi một cuộc nổi dậy. Người Palestine không cần phải nghe lãnh đạo nếu lãnh đạo của họ nói: Đừng chiến đấu. Không ai muốn bạo lực, nhưng tự vệ là quyền chính đáng của con người.”

Mỗi lời nói vang lên như một viên đạn trong căn phòng rất rộng ở biệt thự của Basam Abu Sharif.

“Hồ Chí Minh là một trong những lãnh tụ cách mạng thông minh và học thức nhất trong lịch sử thế giới. Tôi không cho rằng ông ấy là một chiến binh vì dân tộc Việt Nam, ông ấy là một chiến binh của nhân loại. Arafat là một nhà biện chứng từ bản chất, ông ấy luôn suy nghĩ theo cách biện chứng, không phải bao giờ ông ấy cũng đúng như quan trọng là không bao giờ Arafat cho phép bản thân dừng lại và đợi chờ.”

Abu Sharif bắt đầu nói về lịch sử Việt Nam, lịch sử Chiến tranh lạnh, về Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Arafat... Người đàn ông này vẫn được các nhà báo và bạn bè gọi là “Bộ trưởng Thông tin” bởi khối kiến thức đồ sộ của ông về lịch sử, chính trị, triết học, kinh tế, vật lý.... Khát khao tranh đấu và khát khao kiến thức vẫn chi phối cuộc sống của “trùm khủng bố”. Ông kết thúc bài phỏng vấn với chúng tôi bằng quan điểm của mình về cuộc Cách mạng mùa xuân đang diễn ra ở thế giới Arập.

“Mùa xuân Arập đang đến, tôi già rồi, tôi không có điều kiện để chứng kiến tất cả nhưng nó sẽ đến. Nó giống như nước sôi, bạn không thấy nước sôi ngay lúc đầu mà chỉ nhìn thấy từng bong bóng một. Nhưng sau đó tất cả sẽ sục sôi. Người dân đang tỉnh giấc chống lại những chính quyền tham nhũng, những kẻ bù nhìn được chỉ định từ thời thực dân.”

“Tinh thần chiến đấu của ông còn mãnh mẽ và cách mạng lắm. Thế ông nghĩ sao khi bị người ta gọi là “Gương mặt khủng bố?” Chúng tôi hỏi Basam Abu Sharif như vậy và ông lại cười hỏi lại chúng tôi:

“Tôi hỏi thật các anh, các anh có nghe thấy người ta gọi những chiến binh đấu tranh cho tự do ở những nước thuộc địa ngày xưa là gì khác ngoài “kẻ khủng bố” chưa? Cứ ai chống đối mà họ chẳng gọi là khủng bố, ngay cả với Gandhi của Ấn Độ, con người ôn hòa nhất chỉ đấu tranh bất bạo động. Người Việt Nam chống Mỹ: khủng bố. Người Palestine chống Israel: khủng bố. Trong khi đó, chính những kẻ xâm lược kia mới là khủng bố.”

Abu Sharif đứng lên tiễn chúng tôi ra ngoài, mảnh sân rộng trước cửa nhà ông rực lên bởi màu nắng gắt và màu hoa đỏ như phượng vỹ của Việt Nam. Ông đứng thẳng, cười mím môi và nghiêng nghiêng mái đầu chào chúng tôi một cách kiêu hãnh. “Gương mặt khủng bố” còn có một câu chuyện chưa kể nốt: ông chính là người đã chủ trương đề xuất hai nhà nước dẫn tới cái bắt tay lịch sử giữa Arafat và Rabin năm 1993 tại Oslo. Ông đã không nhắc tới một biệt danh khác của mình đã được báo chí quốc tế đặt cho.

“Gương mặt của hòa bình”

Khánh Duy

Thứ Tư, 8 tháng 6, 2011

Kỳ 7: Hội chứng Jerusalem của người Palestine




Người Ý có câu: “Mọi con đường đều dẫn đến thành Rome.” Ở Palestine, mọi con đường đều dẫn tới Jerusalem. Mọi địa điểm quan trọng chúng tôi đi qua, từ Lăng mộ cố Chủ tịch Arafat tới Khu trại tị nạn Zelazon, đều có tấm biển chỉ khoảng cách tới Jerusalem...

“Đến Palestine mà không vào được Jerusalem thì chuyến đi mất một nửa ý nghĩa.” Nhà báo Như Phong ca thán bởi giấy phép nhập cảnh của chúng tôi không cho phép vào Jerusalem.

“Bên những dòng sông của Babylon, chúng tôi ngồi, chúng tôi khóc, khi chúng tôi nhớ Zion.”*

Nhưng không phải nhóm nhà báo đang khóc, chúng tôi cũng chưa thương nhớ và tiếc nuối Jerusalem đến vậy. Lời ca thán trên là những câu thơ được trích dẫn khá phổ biến ở Israel, mô tả nỗi đau của những người Do Thái trong quá khứ, khi không trở về được Ngôi đền thiêng của họ nằm giữa Jerusalem. Lịch sử dân tộc Do Thái gắn liền với nỗi đau ly hương như thế và chính ký ức về ngôi đền cổ ở Jerusalem đã gắn kết dân tộc từng bị tan tác ấy lại với nhau.

Cho đến khi người Do Thái được trở về năm 1948 và đặc biệt khi người Israel chiếm Đông Jerusalem năm 1967, lại đến một dân tộc khác phải than khóc vì tiếc nhớ, đó là những người Arập sống trên lãnh thổ Palestine:

“Ngôi nhà là của chúng ta
Jerusalem là của chúng ta.”*

Bài ca Zahrat al-Madayin của người Palestine, cũng ai oán và bi thương không kém gì những khúc ca của người Do Thái. Nỗi khát khao trở về Jerusalem của họ gần như đã trở thành nỗi ám ảnh.

Nỗi ám ảnh ấy, chúng tôi nhìn thấy ở khắp mọi nẻo đường Palestine, dưới khắp mọi hình thức khác nhau. Chóp tròn màu vàng của Nhà thờ Hồi giáo là một biểu tượng dễ nhận ra nhất của Jerusalem và nó hiển hiện trên mọi ngóc nghách Bờ Tây. Người Palestine vẫn luôn coi Đông Jerusalem là thủ đô của họ, ít nhất cũng ở trong địa hạt tinh thần. Họ vẽ màu vàng của chóp tròn ấy trên lưng những bức tường bê tông của Israel và cả trên những bức tường gạch của chính mình.

Ngạc nhiên hơn cả là khi chúng tôi tới thăm Trường tiểu học Tây Ban Nha ở Ramallah. Ở đây, những đứa trẻ Palestine đã tự thể hiện nỗi ám ảnh Jerusalem bằng mọi dạng thức của nghệ thuật. Chúng dựng những mô hình Nhà thờ Hồi giáo ở Jerusalem bằng giấy, vẽ những bức tranh bằng mực màu, thêu bằng chỉ, ghép bằng đá... Jerusalem của chúng hiện ra trong những chiếc bình đã vỡ, phía sau những bức tường chiếm đóng, trên vai một ông già đã yếu sức hoặc trải dài rực rỡ suốt dọc bức tường...

“Chúng em chưa bao giờ được đặt chân tới Jerusalem, chúng em rất muốn tới đó...” Những đứa trẻ nói từ nơi cách Jerusalem chỉ vài cây số, Jerusalem ở ngay phía sau kia thôi, sau những bức tường an ninh ngồn ngộn che lấp tầm mắt, nhưng không ai trong số chúng tới được.

Khi chúng tôi đi trên một đỉnh đồi ra ngoại ô Ramallah, Đại sứ Saadi Salama cho dừng xe, để chỉ cho chúng tôi chóp nhà thờ màu vàng của Jerusalem. Khoảng cách quá xa và chúng tôi phải căng mắt mới nhìn rõ, một đốm vàng sáng đậm hơn màu vàng nhờn nhợt của phần còn lại ở Jerusalem.

“Tôi xin vào Jerusalem nhiều lần nhưng chưa lần nào được chấp nhận vì lý do an ninh.” Đại sứ Saadi nói. Không dễ để những người Palestine ngoài Jerusalem vào được đó, nơi vẫn còn khoảng 240 000 người Arập đồng bào của họ đang sinh sống. Khoảng cách rất gần về địa lý nhưng đã bị cách ly bởi những trạm kiểm soát và hàng rào an ninh phân chia đường ranh giới giữa Jerusalem và phần còn lại.

Jerusalem đặc biệt hơn tất cả phần còn lại, bao giờ cũng thế. Thành phố này thêu dệt xung quanh nó những huyền thoại thần thánh, để không chỉ khiến người ta muốn tới thăm mà còn “phát điên” lên vì nó. Tác giả Anton La Guardia còn viết trong cuốn “Cuộc chiến không kết thúc” về một căn bệnh tâm thần có tên “Hội chứng Jerusalem”. Thành phố này tạo ra những ảo tưởng linh thánh trong tâm trí những khách thăm. Họ đi vào và tự cảm thấy như bị mê muội bởi âm vang của thánh kinh. Mỗi căn nhà góc phố đều như đang ẩn chứa một bí mật nào đó, một hoài niệm nào đó được ghi trong sách thánh.

Jerusalem còn đó phần sót lại của Đền Thờ Do Thái, bức tường Than Khóc nơi những người Do Thái mộ đạo vẫn ngày ngày úp mặt vào đó nguyện cầu. Jerusalem còn đó Mộ Thánh, nơi Chúa Jesus đã được chôn sau khi bị đóng đinh trên Thập tự giá. Jerusalem còn đó Nhà thờ Hồi giáo, nơi chứa Vòm đá thiêng mà tương truyền nhà tiên tri Mohammed của Đạo Hồi đã bay từ đó lên Thiên đàng. Vô vàn những di tích khác bao trùm lên thánh địa Jerusalem một bầu không khí huyền hoặc của một thành phố luôn được coi là treo giữa trời và đất...

“Tôi đã từng vào được đó, nhưng phải đi trốn, đi một con đường khác vòng qua núi để trốn vào...” Cô nhà báo Palestine dẫn đoàn kể lại. Đi trốn vào Jerusalem! Một giải pháp nhưng quá mạo hiểm đối với chúng tôi.

“Có một cách khác, các bạn cứ thuê taxi đi vào đó như bình thường, nếu gặp trạm kiểm soát thì đưa hộ chiếu nước ngoài ra. Họ có thể sẽ cho qua, nếu không thì thôi, đừng ngại, với người nước ngoài, Israel cũng dễ chấp nhận thôi...” Những nhân viên ở khách sạn Movenpick, Ramallah đã khuyên chúng tôi như vậy.

Và tới khi chúng tôi đã sẵn sàng tập trung dưới sảnh, chuẩn bị gọi taxi để đi theo cách đó thì nhận được lời khuyên dừng lại. “Hôm nay là thứ 7, người Do Thái nghỉ làm việc, nếu có bất kỳ vấn đề gì với các bạn, sẽ không thể giải quyết trong hôm nay, chủ nhật mới giải quyết được thì đã chậm chuyến bay về mất rồi. Các bạn không nên vào đó nữa.” Đại sứ Saadi nhắc nhở.

Vậy nên, trên con đường đưa chúng tôi từ trung tâm Ramallah ra biên giới với Jordan để quay về nước, Jerusalem đành ở lại phía sau, phía sau cả những bức tường an ninh cao vời vợi kia nữa. Nhìn từ phía bên này, Jerusalem cũng không có gì đặc biệt ngoài một màu vàng của đá nhờn nhợt, nhờn nhợt như mọi nơi khác ở đây, đúng như Herman Melville viết khi đi thăm Palestine hồi năm 1857:

“Những ngọn núi đá và những đồng bằng đầy đá, những dòng nước lổn ngổn đá và những con đường lổn nhổn đá, những bức tường đá và những thửa ruộng đầy đá, những căn nhà làm bằng đá và những ngôi mộ xây bằng đá, những con mắt vô hồn như đá và những con tim chai cứng như đá....”*

Cũng chỉ là một đống đá thôi, có gì đáng để xem. Nhóm nhà báo Việt Nam phải tự an ủi mình như thế để ra về. Hoặc sẽ AQ theo kiểu: Thôi không vào được mới hiểu nỗi khao khát trở về Jerusalem của người Palestine.

Dẫu sao, mọi sự AQ cũng không khiến sự ra về ấy tránh khỏi một niềm tiếc nuối. Xét thế, có khi chúng tôi cũng đã mắc căn bệnh tâm thần mang tên “Hội chứng Jerusalem” ngay cả khi chưa được bước vào...

* Các trích dẫn được lấy từ cuốn “Cuộc chiến không kết thúc” của tác giả Anton La Guardia, NXB Văn hóa Thông tin, Lưu Văn Hy dịch.


Khánh Duy