Thứ Ba, 3 tháng 5, 2011

The Ice Hotel

Bình thường, dị thường và vô thường ở Khách sạn băng


Tùy bút nghĩa là cứ phóng bút viết thế nào thì tùy

Chúng tôi đã phải ngủ trong chiếc “tủ lạnh” lớn nhất thế giới với 6000 mét vuông mặt sàn. Chiếc “tủ lạnh” ấy là Khách sạn Băng tại miền cực bắc Thuỵ Điển.

6h tối, con tàu bắt đầu chuyển bánh đưa đoàn nhà báo Việt Nam đi dọc theo chiều dài đất nước Thuỵ Điển, từ thủ đô Stockholm ở miền Trung đi ngược lên miền Bắc. Chuyến tàu đêm cuối tuần chở đa số là những người mê trượt tuyết mang theo người đầy những đồ nghề. Con tàu sẽ đi thẳng sang Na Uy nhưng chúng tôi sẽ dừng lại ở thành phố Kiruna gần cực bắc Thụy Điển, khu vực này đã nằm ngoài vòng cực 200 Km. Đích đến sẽ là một khách sạn đặc biệt nhất thế giới chỉ làm bằng băng và tuyết có tên Ice Hotel (Khách sạn băng), cách Kiruna 12 Km.

“140 đôi từ khắp thế giới tới khách sạn băng để cưới nhau mỗi năm.” Ai đó đọc thông tin từ tờ hướng dẫn.

“Không hiểu họ cởi quần áo để ngủ với nhau trong đó kiểu gì nhỉ?” Ai đó hỏi.

Tiếng cười rộn lên ở cái khoang giường năm 6 người trên chuyến tàu cuối tuần. Ai cũng tò mò với chuyến đi độc nhất vô nhị tới một địa điểm du lịch nổi tiếng bậc nhất Thuỵ Điển, khách sạn băng đầu tiên và cũng là lớn nhất trên thế giới. Năm nay, khách sạn băng ấy bước sang tuổi thứ 21 và mỗi năm đón 60 000 khách thăm. Chỉ có 30% trong số đó là người Thuỵ Điển.

“Đắt lắm, rất ít người Thụy Điển đã tới khách sạn băng. Châu Á chỉ có người Nhật hay tới đây, nhiều đôi Nhật làm đám cưới ở đó.” Cô Karin, người dẫn đoàn nhà báo Việt Nam cũng hồi hộp không kém.

Mà đắt thật. Phòng rẻ nhất ở đó cũng khoảng hơn 8 triệu một đêm tính ra tiền Việt, phòng đắt nhất khoảng 22 triệu. Đã đắt lại còn xa, 18 tiếng liên tục trên tàu là quãng thời gian rất dài. May mắn là màn đêm đã nhanh chóng biến quãng thời gian bải hoải ấy thành một cái chớp mắt.

7h sáng, chúng tôi tỉnh dậy và nhìn ra ngoài khung cửa sổ: chỉ thấy loang loáng màu trắng của băng tuyết và màu xanh đen của những cây thông trụi lá. Nhà cửa cứ thưa thớt dần và màu trắng của tuyết mỗi lúc một dày thêm khi đoàn tàu tiến dần về miền cực.

Hệ thống sưởi cực tốt làm không khí bên trong con tàu luôn ấm áp nhưng nhiệt độ buổi sớm bên ngoài luôn khoảng -10 độ C. Chúng tôi nhìn thấy những khoảng trắng mênh mông phẳng lặng, đó là những dòng sông hay những hồ nước đã đóng cứng thành băng và bị che phủ thêm lần nữa bởi một lớp tuyết dày.

Bữa sáng nhẹ với bánh mỳ kẹp, nước táo cộng thêm với văn hóa buôn chuyện của người Việt đã đẩy thời gian đi tới điểm cực của nó. 10h sáng, cô Ingela trưởng đoàn đi khắp từng khoang nhắc chúng tôi.

“Các bạn sẵn sàng chưa, chuẩn bị xuống nhé, sắp tới Kiruna rồi.”

Cô Ingela đã ngoài 50 vẫn thật trẻ trung trong chiếc áo thể thao màu xanh. Cô làm chúng tôi cảm động vì sự chu đáo của mình.

Kiruna đã hiện ra xa xa từ ngoài cửa sổ con tàu. Không lãng mạn cho lắm, một quả núi khá to nham nhở màu đen của nhà cửa và màu trắng của tuyết. Thành phố nhỏ xíu này tồn tại chỉ bởi ở đó có một mỏ sắt lớn nhất thế giới ngay trong quả núi, toàn bộ nơi này sống phụ thuộc vào khu mỏ ấy. Nhà ga Kiruna với lớp gạch và mái đỏ hiện ra khá xinh xắn giữa màu tuyết trắng phau và màu trời xanh ngắt.

Một chuyến xe bus đón chúng tôi từ ga tàu xuôi xuống Khách sạn băng cách đó 12 Km. Những cánh rừng tuyết phủ bắt đầu hiện ra và không gian của miền cực dần rõ nét. Tuyết, tuyết và chỉ có tuyết, mùa đông ở vùng Lapland của Thuỵ Điển mang đặc trưng Bắc Âu: tuyết là vua và tuyết cũng là hoàng hậu.

Ngôi làng Jukkaskarvi nơi có khách sạn băng thật bình dị. Những nóc nhà lơ thơ giữa một vùng tuyết trắng bao la. Toàn ngôi làng chỉ có 900 người sinh sống với khoảng 1000 chú chó. Khách sạn băng đã làm tan đi cái không khí heo hút của ngôi làng ngoài vòng cực ấy, mỗi năm, 20 000 người trên khắp thế giới về đây chỉ để được ngủ trong những căn phòng băng tuyết.

Xe bus đậu ngay trước cổng khách sạn băng, chúng tôi bước ra khỏi xe nhưng vẫn chưa biết đâu là khách sạn, vẫn là những căn nhà nhỏ xinh xắn bình thường với mái phủ lớp tuyết dày.

“Trời ấm quá, ấm hơn cả ở Stockholm.” Tôi nói với cô Ingela.

“Yes, nhưng vừa từ xe xuống thôi, đi một lúc trong tuyết mới thấy lạnh.” Cô Ingela trả lời.

Quá trình check in diễn ra chậm chạp, đoàn 24 người được bắt thăm để chia làm hai nhóm, nhóm 16 người được ở phòng Băng và nhóm 8 người còn lại ở phòng Tuyết. Chưa ai biết phòng ốc thế nào, chỉ biết phòng Băng thì “xịn” hơn phòng Tuyết.

Sau khi check in, như thường lệ, khách sẽ được về phòng tắm rửa nghỉ ngơi. Nhưng ngược lại, ở khách sạn băng, check in xong vẫn chưa được về phòng mà buộc phải… đi chơi. Người ta phát cho mỗi chúng tôi một chiếc chìa khóa nhỏ có ghi số phòng nhưng không phải để mở cửa phòng mà để mở… tủ đựng quần áo.

Có một khu riêng gọi là Phòng Thay đồ (Dressing Room) nơi có một dãy tủ dài. Mỗi người phải vứt hết quần áo đồ đạc của mình vào trong chiếc tủ ấy và được phát một bộ quần liền áo to đùng, một đôi giày cao cổ khủng bố và một đôi găng tay của võ sỹ đấm bốc. Ai cũng phải “đeo” bộ đồ nặng như cùm ấy vào người và bắt đầu đi ra ngoài. Vẫn chưa biết mặt mũi cái khách sạn băng thế nào.

Cô Ingela và cô Karin lại không ở trong phòng băng tuyết mà thuê hai phòng ấm ở ngoài. Cái khách sạn băng kỳ lạ này chỉ có 60 phòng lạnh trong băng tuyết, số còn lại là phòng ấm lát gỗ thông như khách sạn bình thường. Chúng tôi bảo nhau, chắc phòng băng đắt, các cô phải nhường cho nhóm khách.

Cuộc đi chơi chuẩn bị bắt đầu thì nảy sinh… nạn đói. Đã 2h chiều và chiếc bánh kẹp buổi sáng đã làm hết nhiệm vụ của nó. Nhà hàng ở khách sạn băng thì đắt và như thường lệ, người Việt tìm về với món ẩm thực giá rẻ truyền thông của mình: mỳ tôm. Chết ở chỗ “xin” đâu ra nước sôi ở khách sạn băng bây giờ? Có phòng đâu mà về đun nước nấu mì.

May mắn thay, cả đoàn gần 20 nhân mạng kéo cả vào hai phòng ấm của cô Karin và cô Ingela để “lục tục” nấu mì. Khổ thân 2 cô có lẽ đã phải ngủ đêm ấy trong cái hương vị mì tôm vẫn còn quanh quất đâu đó trong căn phòng nhỏ. Chờ đũa, chờ bát và chờ cả nước sôi khiến công cuộc cứu đói kéo dài không dưới 1 tiếng.

Ăn no lại... lo đi chơi. Chúng tôi lại đóng bộ quần áo và giày găng khủng bố vào người để bước ra ngoài vùng băng tuyết. Vẫn chỉ có những ngôi nhà xinh đỏ đậm và vàng sẫm giữa không gian của tuyết. Tuyết ở khắp nơi, tuyết phủ kín trên mái nhà, nhấn chìm những ô tô, những thuyền máy và tất cả những gì có thể. Lạ thay, tuyết vẫn không làm ngôi làng nhỏ mất đi vẻ thanh tao của nó với những hàng rào nhỏ bé quây quanh những căn nhà.

“Cổ tích.”

“Như trong cổ tích ý nhỉ?”

Không chỉ một người nói thế, với những người đến từ miền nhiệt đới như chúng tôi, thế giới của băng tuyết như thế chỉ có thể tìm thấy trong những câu chuyện cổ tích của tuổi thơ. Giờ đây thì dư âm cổ tích ấy đã quay trở lại, cuối con đường kia là một nhà thờ nhỏ với cái chóp nhọn cao nhất trong làng. Chúng tôi cứ xuôi về hướng ấy mà lang thang mãi cho tới cuối buổi chiều.

Đúng 5h, tất cả lại tập kết về căn phòng thay quần áo Dressing Room để chuẩn bị “thăm quan” khách sạn băng. Thăm quan thôi nhé! Chưa ai được ngủ ở trong đó cả. Một cậu trẻ có gương mặt non non người Thụy Điển mặc chiếc áo khoác bạc và đội mũ màu xanh có tên hiệu Ice Hotel ra hướng dẫn chúng tôi.

“Tớ là Robert. Bây giờ chúng ta sẽ đi thăm khách sạn băng.”

Cuối cùng thì chúng tôi cũng đứng trước cửa khách sạn băng. Hóa ra khách sạn ấy chỉ cao có 5m với một cánh cổng phụ phủ bằng da tuần lộc khá úi xùi nên chúng tôi cũng không nghĩ rằng đó lại là khách sạn với ít nhất 8 triệu một đêm. Khi bước vào lại càng hoang mang, ái chà, tủ lạnh đây rồi nhưng cũng chưa đến nỗi lạnh lắm, nhưng sao vắng vẻ, đơn giản và cô quạnh quá.

Chỉ có 2 kiến trúc cơ bản ở đây: những khuôn vòm tuyết và những cột băng. Những khuôn vòm rộng 6m, cao 5m tạo thành những hành lang dẫn vào các khu riêng biệt và như mọi khách sạn khác, hai bên hành lang là hệ thông phòng riêng biệt.

“Tất cả các phòng ở đây đều mở cửa cho khách thăm. Nhưng đúng 6h, các phòng sẽ có chủ, các bạn chú ý, 6h tối mỗi phòng là một thế giới riêng tư.” Robert hướng dẫn.

Ặc, riêng tư kiểu quái gì mà cửa không có, chỉ có mỗi một tấm ri đô treo hờ hững trước cửa phòng thế này. Chúng tôi tản ra các phòng để ngắm nghía. Ngoài hai loại phòng Băng và Tuyết, còn có phòng thuộc loại đẹp hơn cả gọi là Phòng Nghệ thuật. Đẹp thì đương nhiên là đắt hơn. Ở đó, có những chiếc giường to tổ chảng trông như bồn tắm khổng lồ, có những đồ vật trang trí như bức tranh hay bức tượng, có những bộ bàn ghế nhỏ. Một lưu ý hết sức quan trọng, tất cả đều làm bằng băng và tuyết. Không có gì ngoài băng và tuyết trừ cái riđô treo ngoài cửa mỗi phòng.

“Nào, bây giờ là hướng dẫn quan trọng nhất, cách ngủ trong khách sạn băng.” Robert gọi mọi người vào một phòng nhỏ, trên giường đã để sẵn một túi ngủ màu xanh to dài.

“Nguyên tắc quan trọng nhất: Mặc càng ít thì càng ấm,” Robert nói.

Thì ra, cái túi ngủ ủ bằng lông ngỗng công nghiệp ấy theo Robert có thể giữ cơ thể ấm ở nhiệt độ -25 độ C. Bạn phải cởi bỏ đa số quần áo ra vào chui vào trong một túi ngủ con làm bằng lớp vải mỏng bên trong túi ngủ to, áo khoác quần jeans cởi ra cũng phải nhét hết vào túi ngủ to. Kéo khóa lên cao và chỉ để hở mỗi cái mũi ra ngoài, bạn sẽ có một giấc ngủ ngon suốt đêm ở nhiệt độ -5 độ C.

Robert nói thế và chúng tôi phải tạm tin như thế.

“7h sáng, sẽ có nhân viên đánh thức bạn dạy với một cốc nước dâu dại nóng đặc trưng của vùng cực bắc Thụy Điển.” Robert kết thúc.

“Nếu lúc đó tôi còn sống để mà đánh thức.” Ai đó đùa.

Tiếng cười theo chúng tôi đi sang một khu vực khác của khách sạn băng. Nhà thờ. Đó là một căn phòng khá rộng với một cây thánh giá bằng băng đặt trên bục trung tâm. Phía dưới là những hàng ghế cho các con chiên cũng bằng băng nốt. May thay có một tấm nệm mỏng trên đó, nếu không chắc ít có con chiên ngoan đạo nhất nào dám ngồi xuống tấm băng ấy để nguyện cầu.

Chúng tôi ngồi xuống những chiếc ghế băng ấy để nghe “cha” Robert giảng nốt bài thuyết giáo của mình. Một số người bắt đầu lập cập bởi cái sự lạnh. Cái lạnh ở đâu cũng thế, càng lâu càng thấm, điều ấy đúng hơn bao giờ hết ở khách sạn băng.

“Nhà thờ này là nơi chứng kiến lễ thành hôn của khoảng 200 đôi từ khắp nơi trên thế giới mỗi năm. Mặc giá rét, họ vẫn tới đâu để làm đám cưới.”

Có một căn phòng đóng kín cửa dàng riêng cho đôi lứa, đó là căn phòng nơi vua và hoàng hậu Thụy Điển từng tới ngủ qua đêm.

“Nhưng các đôi ngủ với nhau kiểu gì nhỉ?” Ai cũng muốn hỏi nhưng không ai dám.

May quá, cô Karin hiểu ý đã trả lời thay cho Robert: “Họ ngủ trong những túi ngủ đôi.”

Không hiểu cô Karin đùa hay thật.

Từ nhà thờ, chúng tôi lại dẫn nhau qua một điểm đặc sắc khác của khách sạn băng: quán bar băng có cái tên: Absolut Icebar. Hãng rượu vodka nổi tiếng Thụy Điển rõ khéo làm thương hiệu. Một giá rượu, một cái bàn quây, những bàn rượu nhỏ, đồ trang trí… trừ người bán hàng và những chai rượu, tất cả đều bằng băng tuốt.

“Đây là những cốc rượu bằng băng.” Robert giơ cao một chiếc cốc băng và bắt đầu giải thích về nó.

Hay nhỉ, ở nơi khác, người ta cho đá vào đồ uống. Ở đây, đồ uống lại ở trong đá. Điều kỳ diệu ấy chỉ có ở những nơi lạ kỳ như khách sạn băng.

“Cố gắng mua một chiếc cốc về kỷ niệm nhé.” Cô Karin trêu tôi.

“Chắc chỉ mang được nó lên ô tô là cùng. Giá mà nó không tan thì tốt biết mấy.” May mà tôi kịp hiểu ý cô.

Nghĩ kỹ thì trong cái khách sạn băng ấy cũng chẳng thiếu gì, quán bar, nhà thờ, phòng ngủ. Ơ, thế còn cái toilet, không thấy có phòng nào có toilet, không hiểu kiểu gì?

“Toilet ở đâu?” Tôi hỏi riêng Robert.

“Toilet nằm ngoài khách sạn băng, ở phòng thay đồ. Ở trong đây người ta không thiết kế được toilet.”

Chết dở, tôi đã nghĩ tới một kịch bản không hay ho lắm cho những người ngủ qua đêm ở đây mà…. yếu thận.

“Chuyến thăm quan khách sạn băng kết thúc. Chúc các bạn một đêm ngon giấc ở đây. Hãy luốn nhớ rằng phòng thay quần áo (Dressing Room) ở bên ngoài luôn mở cửa 24/24.” Robert kết thúc.

Phù, cuối cùng thì chúng tôi cũng được chui ra khỏi cái nhà lạnh quái quỉ ấy.

“Ấm quá, ấm quá.” Cả nhóm chen nhau đi vào khung cửa hẹp của phòng thay đồ. Bây giờ mới thấm giá trị của sự ấm áp. Nhưng cái sự ấm cũng chẳng kéo dài được mấy nỗi, tất cả lại lục tục áo xống đi ra ngoài ăn tối.

Hoàng hôn đã bắt đầu buông xuống trên bầu trời Kiruna. Ánh hoàng hôn xanh xao và ảm đạm ngoài vùng cực. Chúng tôi lại men theo con đường cũ hướng về phía nhà thờ để tới quán ăn. Ánh sáng muộn màng cuối ngày làm cho những căn nhà gỗ nhỏ trên mỗi nẻo đường bỗng mang một tinh thần khác: huyền ảo và tinh tế hơn.

Quán ăn nhỏ không khác bao nhiêu so với những căn nhà xung quanh, nếu không bước vào thì không ai nhận ra đó là một nhà hàng. Ấm áp và bình yên lạ thường trong căn nhà gỗ ấy, những chiếc khăn trải bàn và những bình nước dâu dại đỏ sậm đã chờ sẵn chúng tôi.

Mặc cho gió tuyết réo gào bên ngoài những khung cửa sổ, trong này thật sự là một mái ấm. Phải ở ngoài vùng cực trong những ngày đông mới thấy thấm thía hai chữ “mái ấm”, khác, sẽ rất khác so với những hình dung về nó ở những xứ sở nhiệt đới quanh năm được sưởi bởi ánh mặt trời.

Ngoài kia, màu của hoàng hôn vẫn xanh một cách lạ thường, hấp dẫn và mời gọi. Nhưng sẽ không ai muốn ra ngoài để được ở lại đây lâu hơn với thịt bò sốt bằng nước dâu dại và khoai tây hầm kiểu Thụy Điển. May thay, thời gian vẫn luôn trôi chậm chạp hơn ở ngoài vòng cực, có 6 tuần trong năm, mặt trời không bao giờ mọc trên mảnh đất này.

“Thôi nào, ra về thôi, chúng ta sẽ trở về bằng một con đường khác. Đi tắt qua sông băng, chúng ta sẽ đi trên mặt sông.” Cô Ingela nói.

Thú vị quá, đi trên mặt sông ở giữa mùa băng. Sẽ không ai nghĩ đó là một dòng sông, dòng sông Torne thơ mộng và trong trẻo bậc nhất thế giới vào mùa hè giờ đây chỉ còn là một khoảng không trắng tới vô tận. Màu trắng của băng tuyết hay người ta vẫn gọi, màu của thiên đường.

Chúng tôi đi sát vào nhau trên mặt dòng sông băng vì sợ trơn trượt và để giữ ấm. Gió vẫn lạnh nhưng trời đã tối sậm hơn. Từng nhóm đen lầm lũi đi trên một sân băng trắng toát. Ai nấy co ro trong bộ quần áo to sụ vì hơi lạnh, lạnh từ trên xuống và lạnh cả từ dưới lên.

Tôi vẫn có thò mặt ra ngoài chiếc mũ rộng vành của mình để nhìn thấy quang cảnh xung quanh, chỉ có những căn nhà và những cây thông xa xa. Cái lạnh của đêm Bắc Cực không xóa đi nổi một cảm giác thú vị chưa từng thấy: “cảm-giác-đi-giữa-sông-băng”, tôi không tìm nổi từ trong tiếng Việt để mô tả cho đúng cảm giác ấy nên đành gọi nó bằng một danh từ riêng như thế.

“Cẩn thận sụt xuống sông đấy.”

“Không sụt được đâu, băng ở đây dày một mét.”

Một mét nước đóng băng, trên đó là một lớp tuyết lạo xạo. Dòng sông Torne chính là dòng sông mẹ của khách sạn băng. Nơi đây, người ta lấy những tảng băng để xây dựng khách sạn băng. Chính xác là, dòng sông ấy còn là mẹ của tất cả những quán bar bằng băng trên toàn thế giới. Tất cả đều phải nhập khẩu băng từ đây.

“Hi vọng đêm này sẽ nhìn thấy Cực quang.” Cô Karin nói.

Cực quang à? Là cái quái gì vậy, ai cũng nói tới Cực quang. Tôi chưa kịp Google xem nó là cái gì, chỉ biết đó là thứ ánh sáng huyền ảo người ta chỉ có thể nhìn thấy khi ở gần Bắc Cực.

“Nếu may mắn chúng ta sẽ nhìn thấy nó vào khoảng từ 9h đến 11h tối nay, các bạn chờ nhé.” Cô Karin nói tiếp.

Khách sạn kia rồi, lạ chưa, chúng tôi về tới khách sạn nhưng không ai muốn về phòng, đây chắc chắn là khách sạn kỳ lạ nhất trên thế giới khi khách ở không muốn về phòng. Không có gì thú vị chờ đợi họ ở đó ngoài giá rét. Và hai “chiến binh” đầu tiên đã vội vã xin hàng. Hai chị gái đã phải nói khó với hai cô dẫn đoàn “xin” được ở phòng ấm vì sợ ốm.

“Tiếc thế, mất 8 triệu rồi.” Tôi đùa.

“Ừ, mình cũng tiếc tiền lắm, cứ vào ngủ thử xem.”

Hơn 20 chiến binh còn lại vẫn kiên trung giữ vững mặt trận, quyết không đào ngũ.

“Lạnh sợ gì, bây giờ vào bar băng uống rượu cho ấm!”

Tất cả kéo vào quán bar, mới 9h, nhạc đã bật nhưng bar chưa đông đúc lắm.

“Phải muộn hơn mới đông.” Cô Ingela nói.

Tôi mời cô một ly rượu trong cốc băng. Chiếc cốc băng trắng toát càng làm tôn lên màu rượu đỏ sậm. Tôi đặt môi vào chiếc ly băng để nhấm nháp những dòng rượu pha giữa vodka Absolut mà một vài hợp chất hoa quả nào đó, một cảm giác êm dịu ngọt ngào.

Cô Ingela và tôi ngồi xuống những chiếc ghế băng có phủ da tuần lộc.

“Cũng ấm áp đấy chứ, không đến nỗi lạnh lắm.” Tôi nói

“Xuống nhảy nhót một lúc cho ấm.” Cô Ingela nói. Tôi không ngờ cô lại trẻ trung đến vậy.

Cả nhóm bắt đầu xuống sàn băng và lắc lư theo điệu nhạc. Sự quyến rũ của sàn băng đã mê hoặc cả những ai đứng tuổi và những ai nhút nhát nhất. Không hiểu nhạc nhảy bốc quá hay vì muốn làm nóng cơ thể, hơn 10 chiến binh lao vào rung lắc giữa một không gian băng sáng lóa.

Hoá ra, cái lạnh của băng cũng không thể làm nguội cảm hứng của con người, thác loạn mười mấy phút đã có người cởi hẳn áo khoác ngoài, bar băng cũng không khác bao nhiêu so với những quán bar bình thường khác xét về khía cạnh “thác loạn” ấy.

“Ra ngoài thôi, có Cực quang rồi đấy.” Ai đó gọi và chúng tôi đành từ biệt quán bar để đi ra bên ngoài.

“Lại ra đứng ở trên sông nhé!”

Chúng tôi đứng sát vào nhau và nhìn lên bầu trời. Đó là một dải sáng lúc mờ lúc rõ và liên tục thay đổi hình thù. Có lúc nó như một chiếc khăn vắt từ bầu trời bên này sang bầu trời bên kia, có lúc lại chỉ như một chiếc đĩa nhỏ luôn chuyển động.

“Những hôm trời quang hẳn, Cực quang sẽ rất rõ và có màu sắc, thậm chí còn phát ra những âm thanh đặc trưng nữa. Hôm nay không được rõ lắm.” Cô Karin, người háo hức nhất với Cực quang nói.

Chẳng hiểu nó là gì, chúng tôi vẫn bất chấp cái lạnh, nghển cổ lên nhìn vệt sáng nhờ nhờ cứ lúc ẩn lúc hiện ấy.

“Lạnh quá, về thôi.” Mấy người nói và tất cả hưởng ứng. Về thì về, nhưng về phòng thì nào có ấm hơn là bao so với ở giữa sông băng này. Gió có thể ít hơn nhưng nhiệt độ không vì thế mà giảm xuống.

Không ai muốn về phòng. Chúng tôi cứ tha thẩn mãi ở phòng Reception và phòng thay đồ. Kẻ đọc báo, người bấm điện thoại. Ngao ngán và lạ kỳ làm sao khách sạn băng. Cái khách sạn mà kẻ chưa đi thì muốn đến cho bằng được còn kẻ đã đến lại không muốn vào.

“Đến xem cho biết thôi, sao phải ngủ trong đó làm gì nhỉ?”

“Các cô ấy đã nói rồi, cứ ngủ trong đấy một đêm cho có cái mà kể cho con cháu.”

Ừ, thì cố. Có người đã bắt đầu lục tục ra lấy túi ngủ để vào khách sạn. Cái gì đến cũng phải đến. Tôi cũng ôm một chiếc túi ngủ to đùng từ phòng thay đồ bước vào cổng khách sạn băng.

“Thử xem thế nào, có ai chết đâu mà sợ!” Tôi nghĩ.

Tôi với một anh bạn chui vào căn phòng đánh số 348, một phòng Tuyết có giá rẻ nhất ở đây. Không có gì ngoài một chiếc giường băng trải lông tuần lộc.

“Ái chà, phòng bé xíu. Trông như cái nhà xác.” Tôi nghĩ thầm.

Tôi bỏ hết áo khoác và chui vào trong chiếc túi ngủ nhỏ. Vật vã mãi tôi mới nhồi được chiếc áo vào trong túi và kéo được khóa lên. Anh bạn cùng phòng đã chui vào tự bao giờ:

“Cũng ấm lắm đó, ngủ được.” Anh nói.

“Vâng, khá ấm.”

Tôi để chiếc túi ngủ hở cả khuôn mặt, nhưng bên trong khá ấm. Chiếc túi ngủ vẫn mang sức ấm của căn phòng bên ngoài. Khá dễ chịu, tôi ngơ ngáo nhìn xung quanh từ chiếc lỗ bên trên túi ngủ, ái chà, toàn tuyết là tuyết. Không có cái gì chống đỡ cả, sao xây bằng tuyết mà nó không sập xuống nhỉ?

Sáng hôm sau đọc hướng dẫn tôi mới hiểu, tuyết dùng để xây khách sạn này không phải là thứ tuyết (snow) thông thường mà đó là một thứ tuyết đặc biệt được gọi là snice. Mỗi năm 30 000 mét khối nước từ dòng sông Torne được chuyển qua những chiếc máy đặc biệt để tạo thành loại tuyết đó. Sản phẩm cuối cùng là sự kết hợp giữa băng và tuyết có độ đông đặc phù hợp, đủ cứng để không sụp và đủ mềm để tạo hình.

Tôi thiếp đi lúc nào không biết giữa cái khách sạn dị thường ấy sau những mệt mỏi của một ngày ắp đầy những kỷ niệm dị thường. Không có giấc mơ kinh dị nào nữa, thế đã là quá đủ cho một ngày sống của mình.

Giữa đêm, có lẽ là giữa đêm, tôi bắt đầu tỉnh dạy. Lạnh, lạnh quá. Tôi cố co người lại trong chiếc túi ngủ con nhưng vẫn lạnh. Khí lạnh hình như đã tràn vào túi ngủ to.

“Sao lại lạnh thế được nhỉ?” Tôi chợt nghĩ có lẽ mình đã làm sai điều gì đó trong cách thức ngủ được Robert dạy. Robert nói: “Nguyên tắc quan trọng nhất: càng mặc ít quần áo càng ấm.”

Tôi nghĩ ra rồi, nguyên tắc là ở chỗ để cho cơ thể sát với thành trong túi ngủ, chính nhiệt độ cơ thể sẽ làm ấm chiếc túi ngủ. Nhưng tôi đã trót dại mặc cả áo len và quần jeans chui vào ngay từ đầu. Bây giờ cởi hết ra chắc lạnh chết mất. Thôi đành, cố quằn quại chịu vậy.

Bên cạnh, không thấy anh bạn cùng phòng có động tĩnh gì. Tôi quay hết bên này tới bên kia trong chiếc túi ngủ chết tiệt. Sao mà chiếc túi dành cho thằng Tây to thế, khí lạnh ở khắp nơi chui vào trong lòng túi hết cả, co quắp kiểu gì cũng không hết lạnh.

Quằn quại thêm tiếng thì tôi chịu hết nổi, tôi thò tay tìm chiếc áo khoác để mặc nhưng tìm mãi không thấy.

“Ơ, sao lại có đứa nào vào đây ăn cắp áo của mình được nhỉ?”

Tôi đâm hoảng, lục loạn trong túi ngủ vẫn không thấy, càng quẫy đạp sờ soạng càng thấy lạnh. Thành trong chiếc túi đã lạnh như bên ngoài. Hóa ra cái áo khoác to đùng chui tọt xuống phía chân túi từ khi nào. Tôi gắng sức kéo chiếc khóa túi ngủ ra và mặc áo vào trong trạng thái run lập cập. Xỏ được chân vào đôi giày mà tôi nghĩ cũng không phải là giày, sao lại có cái thứ giày lạnh thế.

Tôi lập cập đi ra khỏi căn phòng chết tiệt ấy, dò dẫm giữa những hành lang nhập nhoạng được chiếu sáng bởi những bóng đèn mập mờ trước cửa mỗi căn phòng. Có khác gì cái nhà xác đâu cái khách sạn quỉ quái này. Âm u và lãnh lẽo. Chính xác là, đi một mình giữa dãy hành lang ấy tạo ra cảm giác đi giữa một nhà xác thực sự.

Mở cửa phòng thay đồ mới biết mình đã thoát. Ấm như chưa bao giờ được ấm. Đập vào mắt tôi, một quang cảnh khôi hài, nhóm “chiến binh” dũng cảm nằm la liệt trong túi ngủ trên những chiếc ghế dài dùng để ngồi thay đồ. 4 nhân mạng đang nằm ngủ ngon lành không vẫy tai. Ơn Chúa, tôi không phải là thằng hèn duy nhất và đầu tiên.

Tôi mở cửa phòng Sauna Nam, hai nhân mạng nữa đang hồn nhiên ngáy pho pho trên hai chiếc ghế khác. Không kể đàn ông đàn đàn bà, ở đâu có ghế dài và ở đâu có cái sự ấm là cứ ngủ.

Tôi bước qua phòng Reception, đã 4h sáng, cô gái Thụy Điển đứng quầy vẫn mỉm cười tự nhiên. Tôi mua vội một ly ca cao nóng để uống cho ấm người và ngồi xuống chiếc ghế xoay. Phải biết thế nào là lạnh mới hiểu giá trị đích thực của một mái ấm, điều ấy ngàn vạn lần đúng giữa vùng băng tuyết mịt mùng này.

Không chỉ có dân Ta, một ông Tây cũng vừa chạy ra khỏi phòng băng và trả hết túi ngủ:

“Khó thở quá, khó thở quá, không lạnh nhưng tôi khó thở.” Ông ta nói với cô gái đứng quầy.

Cô gái vẫn chỉ mỉm cười, chắc cô đã quá quen với cái cảnh ấy.

Đêm chầm chầm trôi, tôi lấy cho mình quyển tạp chí về khách sạn băng để giết thời gian. Đọc lại lịch sử mới thấy khách sạn đã bước sang tuổi 21 này có đời sống dữ dội và phi thường.

Đó là khách sạn duy nhất trên thế giới mỗi năm phải xây dựng lại một lần. Mỗi năm, cứ khi mùa đông tới là thời điểm người ta bắt đầu tính tới chuyện xây khách sạn băng. Nhưng những nguyên liệu để xây khách sạn đã được tích trữ từ năm trước, 4000 tấn băng đã được lấy từ mùa đông trước và lưu trong kho lạnh.

Mỗi năm, ý tưởng thiết kế khách sạn băng lại khác nhau nhưng thời gian để hoàn thành khách sạn quốc tế với 160 phòng ấy chỉ có vẻn vẹn 2 tháng. Không chỉ là khách sạn, nơi đây còn sẽ là một triển lãm băng nơi 25 nhà thiết kế từ khắp nơi tới trổ tài.

Phần xây dựng cơ bản thực chất chỉ được diễn ra trong 6 tuần. Một cuộc chạy đua thực sự với thời gian, mùa đông khiến ngày càng trở nên tối hơn.

Đến giữa tháng 11, khi mặt trời đã không còn mọc ở phía đường chân trời nữa và nhiệt độ đã lạnh tới mức không thể lạnh hơn (-25 độ C), khách sạn có diện tích bằng hai sân băng ấy bắt đầu mở cửa đón khách thăm quan.

Khách sạn sẽ chỉ hoạt động trong vòng 5 tháng nếu Chúa trời phù hộ. Ngay khi những tia nắng sớm của mùa hè soi rọi xuống vùng Cực này, những mảng băng tuyết đầu tiên của khách sạn sẽ bắt đầu tan chảy. Khách sạn mang màu của thiên đường sẽ vĩnh viễn tan mất từ khoảng giữa tháng 4.

Như một giấc mơ có thật, khi tôi dời mắt khỏi cuốn tạp chí cũng là lúc những ánh sáng đầu tiên của bình mình đã bắt đầu le lói ngoài kia. Tôi khoác áo ra ngoài châm một điếu thuốc. Trời trong vắt, không khí trong vắt và màu băng tuyết trong vắt. Nơi này, sự trong trẻo đã đạt tới tận cùng của nó, khói thuốc cũng chỉ như một làn sương mỏng, vẩn lên rồi tan vội vào vào sự trong trẻo ấy.

Những “chiến binh” dũng cảm nhất cuối cùng cũng đã đi ra, hình như chỉ có 1 hay 2 người chờ được một cô gái Thụy Điển xinh đẹp nào đó đến đánh thức bằng ly nước dâu nóng. Kẻ lạnh, người chịu được, nhưng cuối cùng, may mắn là ai cũng “sống sót”. Hơn thế, cô Ingela nói đúng, ai cũng có những câu chuyện làm quà để kể cho gia đình mình.

Sau màn xông hơi và tắm nước nóng kiểu Bắc Âu, chúng tôi sang nhà hàng ăn sáng. 7h sáng mới là thời điểm đẹp nhất của Khách sạn băng. Trời xanh như không thể xanh hơn và trong suốt như chưa từng có gì trên đó. Khách sạn trắng muốt tương phản trọn vẹn với màu xanh mịn của bầu trời. Từ cửa sổ phòng ăn nhìn ra, làng Jukkasjarvi với những hàng thông và bạch dương giờ đây đã thực sự hóa thành cổ tích.

Sau bữa sáng, chúng tôi lại đi ra giữa dòng sông băng. Dòng sông đã không còn lạnh nữa, ánh nắng chan hòa khắp nơi khiến cho ai cũng có một cái đuôi là cái bóng của chính mình. Xa kia có những đỉnh núi thấp cây phủ lơ thơ, còn ở đây, giữa dòng sông chỉ có băng tuyết và một đàn xe chó kéo từ đâu chạy tới, đậu sẵn ở đó chờ khách.

“Chúng ta ra xem người ta khai thác băng để xây khách sạn năm sau nhé.” Một cô gái người Thụy Điển có làn da nâu sẫm bước tới, cô là người hướng dẫn địa phương.

Những chiếc xe xúc băng màu vàng bắt đầu đưa những tấm băng đã được cắt sẵn từ dưới hồ lên.

“Mỗi năm người ta khai thác khoảng 3000 đến 4000 khối băng như thế này. Nhưng chỉ có 1000 dành cho xây khách sạn băng ở đây, số còn lại để xuất khẩu cho các quán bar băng, triển lãm băng... ở nhiều nơi trên thế giới.” Cô hướng dẫn nói.

“Tại sao lại phải nhập khẩu băng từ đây mà không phải từ nơi khác?” Ai đó hỏi.

“Sông Torne là dòng sông trong trẻo bậc nhất thế giới và có dòng chảy rất khoan thai. Nếu dòng sông đục hay dòng chảy nhanh chậm thất thường đều sẽ tạo ra những tảng băng đục. Những tảng băng ở đây trong suốt nhất thế giới nên mọi nơi đều phải nhập băng ở đây.” Cô hướng dẫn trả lời.

Lại một điều kỳ diệu nữa của Jukkasjarvi, thêm một lý do nữa giải thích tại sao ngôi làng nhỏ nơi số chó còn nhiều hơn số người mỗi năm thu hút số lượng khách thăm gấp 60 lần dân số của nó.

Những chiếc xe cắt băng đã tới, một lưỡi cưa được đưa xuống theo những vết đánh dấu sẵn, làm cho bọt nước bắn tung tóe theo mỗi nhịp cắt. Những tảng băng gọn gàng đã tách ra khỏi dòng sông mẹ khổng lồ, chờ để đưa vào một kho lạnh rất lớn cách đó không xa.
Băng sẽ được lưu ở đó suốt mùa hè, chuẩn bị cho khách sạn mới mùa đông sang năm.

Chúng tôi lầm lũi rời khỏi dòng sông băng để ra về. Trước mặt là khách sạn băng trắng toát và sau lưng là dòng sông mẹ đã sản sinh ra nó. Có câu nói rằng mọi thứ sinh ra từ đất mẹ rồi lại trở về với đất mẹ. Ở đây, mẹ không phải là đất mà lại là sông.

Khách sạn băng khi chúng tôi đến đã là cuối tháng 3, chỉ còn hai tuần nữa thôi, mặt trời bắt đầu tỏa sức nóng mãnh liệt của nó xuống mảnh đất này. Khách sạn băng và cả dòng sông mẹ của nó bắt đầu tan chảy. Cái gì vốn thuộc về dòng sông rồi sẽ trở lại với dòng sông.

Đặc biệt làm sao, khách sạn băng. Giữa bao nhiêu dị thường của nó vẫn tồn tại một quy luật hết sức bình thường: quy luật ấy chính là sự vô thường. Xuân hạ thu đông rồi lại xuân, khách sạn dựng lên, biến mất rồi lại dựng lên như những giấc mơ có thật.

Chúng tôi lên xe bus rời đi, tất nhiên, trước khi khách sạn hư ảo ấy tan biến vào với dòng sông đã làm ra nó. Nhưng những ký ức và kỷ niệm đã có nơi này không hề tan biến đi đâu cả, cô Ingela, cô Karin và những gương mặt bạn bè khác nữa... Chỉ có những ký ức không quên ấy thách thức được sự vô thường trên mỗi nẻo đường cuộc sống đi qua....

Khánh Duy

Chủ Nhật, 13 tháng 2, 2011

Từ cấm kẹo cao su tới khát vọng hoàn hảo của Singapore


Báo chí phương Tây gọi Singapore là gì nhỉ? Nhà nước vú em, một nhà nước đánh thức bạn mỗi sáng, theo dõi bạn cả ngày, và đưa bạn đi ngủ mỗi tối.

Còn Lý Quang Diệu được gọi ra sao? “Tiểu Hitler ở Đông Nam Á“, “nhà độc tài”, “ông bố biết tuốt”.

Thực hư thế nào chưa bàn, chỉ có điều, Singapore dưới con mắt truyền thông quốc tế nổi lên với một đặc điểm cơ bản: một chính quyền nghiêm khắc tới mức không có trong từ điển của nó chữ “tình”. Từ việc duy trì hình thức phạt đánh bằng roi cho tới cấm bán kẹo cao su, có vẻ trong mắt không ít người, sự quá quắt đã đi quá giới hạn của nó.

Sự kiện gây chấn động thế giới hơn cả là việc công dân người Úc gốc Việt Nguyễn Tường Vân bị chính phủ Singapore tuyên án tử hình năm 2005 do mang 400g ma tuý vào nước này. Không phải bởi án tử hình cho tội phạm ma túy, Singapore quá nổi tiếng với bộ luật đưa lên giá treo cổ bất kỳ ai sở hữu trên 15g heroin rồi.

Điều đặc biệt ở chỗ, bất chấp năm lần bảy lượt đích thân thủ tướng Australia John Howard “cầu xin” thủ tướng Singapore Lý Hiển Long, và thậm chí cả “đe doạ” sẽ làm xấu đi quan hệ ngoại giao hay đưa vụ việc ra tòa án quốc tế, chính quyền Singapore hoàn toàn không nhượng bộ.

Ân huệ lớn nhất là họ đã cho phép mẹ của Nguyễn Tường Vân được gặp, nắm tay và vuốt mặt con trai lần cuối trước khi treo cổ phạm nhân. Ngay cả điều nhỏ nhất ấy cũng chưa có tiền lệ ở quốc gia cấm tử tù không được gặp người thân này.

“Vô nhân đạo”, “dã man”, “bất trị” là những từ ngữ trong số không biết bao nhiêu tính từ những người chủ trương “nhân quyền” đã dùng để mô tả chính quyền của Singapore khi ấy.

Vậy cho nên, trong một cuộc ăn trưa tình cờ với hai nữ doanh nhân Singapore trong lĩnh vực y tế vài tuần trước, khi được hỏi có thích Singapore không, cho dù rất muốn ngoại giao, người viết bài này vẫn phải nói “Không” với cái lý do đầy cảm tính: “Singapore có quá nhiều luật lệ!”

Rất tiếc, vài tuần sau, người viết cảm thấy thật lòng hối tiếc với câu trả lời ấy của mình. Không phải bởi nghĩ lại thấy hai cô gái ấy xinh đẹp, mà do một cuốn sách mới tinh có tên: “Đối thoại với Lý Quang Diệu” của nhà báo Mỹ Tom Plate.

Lý Quang Diệu là cáo hay là nhím?


“Đối thoại với Lý Quang Diệu” đơn giản mô tả lại cuộc phỏng vấn 2 ngày giữa Tom Plate và cha đẻ của đất nước Singapore. Đáng ra, với một cuộc phỏng vấn kéo dài 2 ngày mà lại về chính trị nữa thì cuốn sách phải nhàm chán mới đúng. Người viết đã mua về nhưng cũng không định mất công đọc cho tới khi nhận được chỉ thị của “cấp trên”: phải đọc!

Đến lạ! Đọc rồi không dứt ra được, cuốn sách có ma lực khó cưỡng.

Nói một cách đơn giản thế này, Tom Plate định làm một cuộc đại phẫu với “ông già” đã 86 tuổi Lý Quang Diệu. Một cơ hội hiếm hoi cuối cùng để hiểu lại một vĩ nhân chính trị chắc cũng sắp “tìm về với Marx”. Lý Quang Diệu ho sù sụ và phải chườm hết bình này đến túi kia trong suốt cuộc phỏng vấn, còn Tom Plate vừa đùa cợt vừa “biểu diễn” kiến thức Đông Tây Kim Cổ để “thử” ông già họ Lý.

Cuộc phỏng vấn “như đùa” ấy thế mà cũng trả lời được khối câu hỏi hay hay, trong đó quan trọng nhất có lẽ là: Lý Quang Diệu đã”cấy” DNA gì vào đất nước Singapore mà họ phất thế hay nói một cách nghiêm túc hơn: tư tưởng quản trị đất nước và phát triển kinh tế của Lý Quang Diệu như thế nào?

Tom Plate “soi” Lý Quang Diệu dưới lăng kính của một loạt những nhà tư tưởng phương Tây từ cổ đại như Plato, tới cận đại: Machiavelli, Thommas Hobbes, Thommas Moore và hiện đại: Friedric Hayek, Isaiah Berlin… cho dù Lý Quang Diệu bảo:

“Tôi không giỏi triết học và các học thuyết, tôi chỉ đọc qua loa thôi, tôi chỉ quan tâm tới những gì hiệu quả trong thực tiễn.”

Ấy thế mà, trong tư duy phát triển của Lý Quang Diệu tồn tại tất cả những tư tưởng đặc sắc của các nhà triết học vừa kể, cho dù họ vẫn được coi là đối nghịch nhau “chan chát”.

Lý Quang Diệu kiên quyết dùng kỷ luật sắt để điều hành đất nước, thà làm cho dân sợ còn hơn làm cho dân yêu, như đúng như những gì Machiavelli từng răn dạy các bậc Quân vương trong cuốn sách cùng tên 500 năm trước. Thế nhưng, ông cũng tạo ra một “thành bang” Singapore được quản trị bởi những con người tinh hoa bậc nhất đúng như nền Cộng hòa lý tưởng được điều hành bởi quý tộc ưu tú trong tưởng tượng của Plato.

Lý Quang Diệu góp công quan trọng kiến tạo một xã hội không tưởng (utopia) kiểu Thommas Moore với kinh tế, giáo dục, y tế… đứng hàng đầu thế giới trong khi tỉ lệ tội phạm thấp nhất toàn cầu. Trong khi ấy, ông lại sử dụng những biện pháp “cảnh sát trị” để duy trì luật pháp và trật tự thép kiểu Thommas Hobbes.

Không phản đối Karl Marx nhưng cũng lại rất hâm mộ kinh tế thị trường của Hayek, với những người phê bình, Lý Quang Diệu có thể hiện lên như một chú “cáo” hai mặt, luôn luôn biến hình, chẳng có tư tưởng phát triển gì chủ đạo ngoài những thủ đoạn chính trị để sẵn sàng “vùi xuống đất đen” mọi phe phái đối lập với mình.

Tom Plate không nghĩ thế và tay nhà báo Mỹ “ma quái” này có tài thuyết phục để độc giả cũng không nghĩ thế. Cho dù đã được Lý Quang Diệu “rỉ tai” nói nhỏ rằng cứ viết về ông tiêu cực nếu “anh thấy thế”, Tom Plate đã nhìn “ngước lên” để thấy tầm vóc của một Lý Quang Diệu với bản lĩnh sắt đá, động lực phi phàm và trí tuệ vô song.

Con người ấy luôn là một “chú nhím” lầm lũi tìm mọi cách đưa Singapore tiến lên phía trước, sẵn sàng xù gai nhọn với những ai cản bước trên đường. Xã hội muốn phát triển phải được dẫn dắt bởi một tập thể trí tuệ siêu việt. Xã hội muốn ổn định phải có kỷ luật gang thép. Không có gì mâu thuẫn nhau cả, mọi tư tưởng đều có lý nếu vì lợi ích xã hội và đều vô lý nếu để phục vụ quyền lực và lợi ích cá nhân.

Đừng mải cãi nhau về học thuyết này nọ nữa, hãy bắt tay vào làm hết sức để phục vụ xã hội rồi sẽ đúc kết ra lý thuyết. Vì xã hội hãy làm việc tốt, đối xử tử tế với mọi người và trung thành với đất nước, đơn giản vậy thôi, đó chính là tinh thần đạo Khổng.

“Mưa sẽ rửa trôi tất cả, chỉ Khổng giáo còn lại, đó là DNA văn hóa, thứ ăn sâu bám rễ hơn bất kỳ một tư tưởng hiện đại nào.”

Lý Quang Diệu phát ngôn như thế trong bối cảnh Khổng giáo bị số đông coi là một học thuyết hủ lậu đã tạo nền tảng cho chế độ phong kiến cản trở sự phát triển hàng ngàn năm trời. Lạ chưa, ông già họ Lý lại coi đó chính là gen phát triển của Singapore và của cả thế giới người Hoa, là “giá trị Châu Á” đóng góp vào thế giới.

Không lập loè, không hoa mỹ và không mấy khi cảm thấy cần lịch thiệp, nhà “độc tài ôn hòa” theo cách gọi của Phương Tây sẵn sàng nói “Không” với những DNA văn hóa khác như tự do dân chủ kiểu Mỹ, nếu điều đó chỉ dẫn tới tranh cãi và chia rẽ lẫn nhau.

Kẹo cao su và ước vọng hoàn hảo


Ừ, cứ cấm kẹo cao su đi, bỏ phiếu chắc gì dân đồng ý, nhưng cứ cẩm, ông cựu thủ tướng cầm quyền 31 năm ấy được lợi gì nhỉ? Tự làm việc quái dị để gây nổi chăng? Không, Tom Plate trả lời: “Hành vi nhã bã kẹo cao su khắp nơi được nhà cầm quyền coi là đe doạ tới khát vọng trở thành một quốc gia hoàn hảo của Singapore.”

Ôi trời đất, thật là không thể hiểu nổi. Phải chăng vì đã chứng kiến quá nhiều những vứt rác, vứt chuột chết hay thậm chí trói tay vứt cả… vợ ra đường để hành hạ nên người viết không thể hiểu nổi khát khao hoàn hảo ấy của người Sin?

Bất ngờ, sửng sốt, hài hước nhưng không bao giờ là nông cạn, “Đối thoại với Lý Quang Diệu” khiến cho những ai ác cảm với Singapore ít ra cũng có đôi chút nghĩ lại. Người viết sau khi đọc sách có nhấc máy gọi điện cho một người bạn học lâu năm ở Sinapore, xin ghi lại cuộc đối thoại thay cho lời kết:

“Này, Singapore độc tài tới mức cấm kẹo cao su đúng không? Cuộc sống bên đó gò bó vì chính quyền kiểm soát ghê lắm phải không?”

“Cũng bình thường, thoải mái thôi chứ có gì đâu nhỉ. Đúng là có cấm bán kẹo cao su nhưng bọn bạn mình vẫn mua từ trong nước sang đây ăn mà.”

Khánh Duy

Thứ Sáu, 21 tháng 1, 2011

Không có ai “bán ồn ào” trong danh sách giàu nhất Việt Nam



Những người kinh doanh “bê tông và thép” ngập tràn danh mục 500 người giàu nhất Việt Nam trong khi đó, các lĩnh vực thuộc về công nghiệp sáng tạo như truyền thông, giải trí “vắng bóng”.

Theo danh sách 500 người giàu nhất Việt Nam (theo số liệu trên sàn chứng khoán) vừa được VNEXPRESS công bố, trong 10 người đầu tiên, có tới 9 người hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bất động sản. Bất động sản là lĩnh vực tạo ra nhiều người giàu nhất trên sàn chứng khoán, vượt trên cả ngân hàng, thép, thực phẩm, thủy hải sản…

Kết quả tìm kiếm chữ “truyền thông” trong danh sách trên cho thấy “truyền thông” chỉ hiện ra đúng 2 lần. Đó là “Công ty mạng và truyền thông CMT” nhưng ngành nghề của công ty này là Dịch vụ máy tính chứ không phải truyền thông.

Ngược lại, theo Danh sách 400 người giàu nhất nước Mỹ của Forbes, danh mục truyền thông xuất hiện nổi bật. 38 người trong lĩnh vực truyền thông nằm trong danh sách Forbes 400 trong đó có những tên tuổi lớn như Michael Bloomberg của Bloomberg (xếp thứ 10), Anna Cox của hãng Cox (xếp thứ 19), Rubert Murdoch của News Corp (xếp thứ 38), ngôi sao truyền hình Opral Winfrey (xếp thứ 130)….

Nếu coi cả những công ty Google, Facebook hay Amazon cũng là công ty truyền thông thì danh sách còn dài và ấn tượng hơn, với hai ông chủ của Google Larry Ellison và Larry Page đứng số 11, Jeff Bezos của Amazon đứng thứ 18, Mark Zuckerberg của Facebook đứng thứ 35.

So sánh Việt Nam với Mỹ là một sự khập khiễng và câu trả lời cho sự tương phản trên là đơn giản: Mỹ là nền kinh tế cạnh tranh tự do bậc nhất nên tạo ra môi trường thúc đẩy động lực cho một ngành kinh doanh đòi hỏi sáng tạo như truyền thông. Ngược lại, ngành truyền thông ở Việt Nam còn phụ thuộc nhiều vào doanh nghiệp nhà nước và cơ chế nhà nước, vì thế, không thể tồn tại những “ông lớn” đích thực trong một chất lượng thể chế chưa đủ sức tạo ra lực đẩy như vậy.

Nhưng, kết quả tìm kiếm doanh nhân truyền thông trong danh sách 400 người giàu nhất Trung Quốc do Forbes bình chọn lại ngược với dự kiến theo logic trên. Trung Quốc cũng được coi là một đất nước nơi chính phủ kiểm soát chặt chẽ môi trường truyền thông. Vậy mà, rất nhiều doanh nhân truyền thông Trung Quốc nằm trong danh sách và còn nằm ở những vị trí rất cao. Ông chủ tập đoàn Tencent, Mahuang Teng, đứng ở vị trí thứ 9 năm vừa rồi.

Điều đáng ngạc nhiên tiếp theo là kinh doanh truyền thông thành công không phải là câu chuyện mới ở Trung Quốc. 5 năm trước, năm 2005, Forbes trong bản Danh sách 400 người giàu nhất Trung Quốc của mình đã phải xếp truyền thông vào một danh mục riêng nổi bật.

Ông trùm Bruno Wu của Sun Media Holdings, người nắm giữ vô số tạp chí, báo in, kênh truyền hình ở nước này được Forbes dành riêng cho một bài ngợi ca. Những tên tuổi lớn trong ngành truyền thông Trung Quốc đều có mặt từ năm 2005 như Jason Jiang của Focus Media Thượng Hải (xếp thứ 58), đây là nhân vật đã làm bùng nổ thị trường quảng cáo trên màn hình trong các thang máy và tòa cao ốc ở Trung Quốc. Đối thủ trực tiếp của Focus là David Yu của Target Media xếp thứ 307.

Các đại gia khác như Liu Changle của Truyền hình vệ tinh Phoeniz, Charles Zhang của Sohu và Nick Yang của KongZhong Corp đều đã có mặt từ danh sách năm 2005 với các thứ tự xếp hàng lần lượt là 47, 150, 264.

Và đây là kết luận của tạp chí Forbes: “Mặc dù ngành truyền thông Trung Quốc còn bị chính phủ thống trị nhưng danh sách những người giàu nhất cho thấy các doanh nhân thông minh sáng tạo của nước này luôn lách qua những giới hạn để tìm ra con đường cho mình.”

Truyền thông vốn luôn ồn ào còn những ông chủ phía sau họ đều là những người thích lặng lẽ giấu mình để tìm kiếm những con đường, họ được Forbes gọi là “những người đi bán ồn ào một cách lặng lẽ”.

Không có ai “bán ồn ào” trong danh sách những người giàu nhất Việt Nam, nhưng danh sách của Trung Quốc cho thấy, nguyên nhân không phải lúc nào cũng nằm ở hai chữ “cơ chế”.

Thứ Sáu, 19 tháng 11, 2010

Lãnh tụ cuối cùng của Đông Đức cũ và cơn sóng thần 1989


Egon Krenz là một người đàn ông có đôi mắt buồn. Đó là ấn tượng mạnh nhất về ông trong lần chúng tôi gặp Krenz gặp tại Khách Sạn InterContinental Hanoi hồi năm ngoái.

Ông trao cho bạn tôi quyền dịch và xuất bản cuốn Hồi ký của ông “Mùa thu năm 1989”. Phong cách khá bình dị, dáng người to lớn và gương mặt thuần hậu của ông cho người tiếp xúc cảm giác dễ chịu. Người đàn ông mộc mạc đã 73 tuổi này từng là Tổng bí thư cuối cùng của Đảng Xã hội chủ nghĩa thống nhất của Đông Đức ở thời điểm ngay trước khi bức tường Berlin sụp đổ.

Krenz nói đại ý rằng qua cuốn sách, muốn người Việt Nam hiểu đúng hơn về giai đoạn lịch sử ấy và về cá nhân ông. Câu chuyện chung chung, Krenz vừa nói vừa buồn buồn nhìn ra cửa sổ khách sạn.

Gorbachev đã phản bội, Krenz có nói ý đó. Sau này, khi cuốn sách của Krenz đã được NXB Công An Nhân Dân và Alphabooks cho ra mắt, người đọc mới hiểu hơn về ý ấy của Krenz.

Đoạn cuối của sợi dây thừng


Trong sách, Krenz kể một đoạn trong một cuộc hội đàm với Gorbachev những năm tháng cuối cùng của nước CHDC Đức, Krenz hỏi Tổng Bí Thư của Liên Xô:

- CHDC Đức là con của Liên Xô, chúng tôi thật sự muốn biết các đồng chí có tôn trọng nghĩa vụ làm cha?

Gorbachev trả lời một ý khá mập mờ:

- Dây thừng có xoắn tới đâu thì cũng có lúc tới cuối dây.

Cuốn hồi ký này của Krenz mô tả lại đoạn cuối của chiếc dây thừng đó, nơi những vòng xoắn cuối cùng cũng bung ra hết. Nó bung nhanh tới mức Krenz chỉ kịp cầm quyền có 50 ngày, từ 08/10/1989 đến 06/12/1989. Cuốn sách này có thể được đặt tên là “50 ngày” cũng được, bởi cấu trúc của nó theo mạch thời gian tuyến tính, từng ngày từng ngày.

Nguyên nhân trực tiếp của cái sự bung ra ấy của sợi dây thừng được Krenz liệt kê: “biểu tình ngoài phố, thất vọng trong Đảng, cộng đồng XHCN tan rã, lực lượng chống CNXH trỗi dậy, CHLB Đức chống phá CHDC Đức…”

Krenz đã không may khi phải cầm quyền vào đúng giai đoạn hỗn loạn ấy, cái giai đoạn mà theo lời ông thì “tâm lý hoang mang và chán nản lan tràn, không còn viễn cảnh tươi sáng nào nữa…”

Cuộc chạy đua với cơn Sóng thần lịch sử

Cuốn sách này của Egon Krenz cho người đọc cảm giác về một cuộc chạy lũ. Nước từ đâu cứ ùn ùn chảy xuống và Krenz cùng các đồng sự của mình cố hết sức để ngăn dòng. Thực ra đó không phải là cơn lũ mà là một cơn sóng thần, người ta chỉ có thể bỏ chạy chứ không có cách gì ngăn lại được sức công phá của nó.

Vậy nhưng Krenz cũng đã tìm cách đắp đê chắn sóng trong những nỗ lực cuối cùng nhằm cứu vãn nước CHDC Đức. Về kinh tế, “xóa bỏ hệ thống trung tâm hóa đầy quan liêu trong lãnh đạo và lập kế hoạch kinh tế quốc dân, trở lại lấy tiền làm thước đo cho thành tích và thành công kinh tế.” Về chính trị, “dân chủ hóa xã hội, đối thoại là một phần mặc định của văn hóa chính trị, tăng cường nhà nước pháp quyền, định nghĩa mới về quốc hội và cơ quan công quyền, sự thật và minh bạch trong chính sách thông tin.”

Nhưng không còn kịp nữa, công cuộc cải cách mang tên Bước Ngoặt đã diễn ra quá chậm và Krenz, với tư cách người đứng đầu nhà nước Đông Đức ngày ấy, đã không tìm ra được lối thoát cho CHDC Đức trong thực tiễn. Ngay cả trong lý thuyết, câu hỏi tại sao nước Đức XHCN lại sụp đổ cũng không dễ trả lời với một con người tới cuối cuộc đời vẫn tự nhận còn mang trong mình lý tưởng XHCN như ông.

“Càng cố tìm câu trả lời, tôi càng ngập sâu vào mâu thuẫn.” Krenz thừa nhận như vậy. Nhưng cuốn sách này cũng là một nỗ lực trả lời câu hỏi ấy của Krenz, trải nghiệm nhiều năm trong hệ thống và quãng thời gian dài chiêm nghiệm lại sau đó đã dẫn ông tới những kết luận khá rõ ràng: “sự kết thúc ấy đã có từ lâu, nó nằm trong sự bất lực của các nhà nước XHCN ở Châu Âu, không kiến tạo nổi CHXH hiện thực như một lựa chọn đáng tin, có sức thuyết phục và thực sự đáng sống…”

Ai viết hồi ký cũng có ý biện minh cho mình, trong cuốn này, Krenz lý giải theo quan điểm cá nhân nhiều tình tiết lịch sử nhưng ông không phủ nhận lỗi lầm cá nhân trong sự sụp đổ của Đông Đức mùa thu năm 1989. “Cả hôm nay lẫn tương lai tôi không đổ trách nhiệm ấy lên đầu người khác. Chúng tôi đã thất bại có lẽ vì không đủ dũng cảm sớm chia tay với một chính sách đã làm biến dạng CNXH và bầu cử giả hiệu đã làm xấu mặt đất nước với thế giới.”

Nước tới chân mới nhảy. Câu thành ngữ Việt Nam này phù hợp với những diễn biến ở Đức mùa thu năm 1989. Cú nhảy muộn màng đã không cứu được Egon Krenz và Đông Đức thoát khỏi cơn sóng thần lịch sử 1989. Cho dù thừa nhận tính tất yếu của sự sụp đổ ấy, rằng “tình cảnh đó không khác được nữa rồi”, Krenz vẫn trăn trở và suy tư vì ông vẫn còn tin vào lý tưởng XHCN.

Vĩ thanh


Đọc sách của Krenz, người đọc không có một cảm giác dễ vào bởi quá nhiều những sự kiện lịch sử và chính trị đan xen phức tạp. Cuốn sách không hấp dẫn để có thể ngấu nghiến từ đầu tới cuối nhưng có rất nhiều tình tiết đáng lưu tâm. Một trong số đó là mô tả của Krenz về thái độ của những Đảng viên Cộng sản khi Đảng đứng trước bờ vực sụp đổ: “Hàng nghìn người rời bỏ Đảng. Đó là những người trước đó tỏ ra rất cách mạng, các đồng chí có tinh thần phê phán và vì thế hay có “vấn đề” bây giờ lại là lực lượng dũng cảm đấu tranh cho Đảng.”

Và đây, là câu nói mà Egon Krenz đã chắt lọc từ những trải nghiệm của cả cuộc đời chính trị để tổng kết: “Nơi nào chính trị bị hạ cấp thành tư tưởng hệ thì nó mang sức huỷ hoại, bất kể ở hệ thống nào.”

Khánh Duy

Thứ Tư, 11 tháng 8, 2010

Chân dung mùa hạ



Mùa hạ 20 năm sau, sơn dầu Đỗ Chu.

Thứ Bảy, 17 tháng 7, 2010

“Fan Hà Lan nên ủng hộ Tây Ban Nha vô địch”



Viết trước trận chung kết

Tác giả Brian Phillips viết như vậy trên một bài báo mang tên “Sự thoái hóa của đội bóng da cam”, bài báo được đọc nhiều nhất trên tờ Slate trong suốt mấy ngày qua.

Fan quay lưng, thầy quay mặt

“Giấc mơ của hàng triệu fan bóng đá Hà Lan đang bay trên những thành công của đội tuyển. Nhưng với tư cách cá nhân, tôi muốn đội bóng Hà Lan thất bại. Các fan bóng đá nên ủng hộ Hà Lan thua Tây Ban Nha.”

Brian Phillips là ai? Một cổ động viên của đội Tây Ban Nha chăng, hay một kẻ cá độ chuyên nghiệp đã đặt tất tay vào cửa Bò tót trong trận chiến đêm nay?

Không, rất tiếc, đây là câu kết của bài báo mà anh viết: “Tại sao tôi muốn Tây Ban Nha thắng đêm Chủ nhật này ư? Không phải bởi vì tôi không yêu Hà Lan, mà bởi tôi yêu đội bóng ấy và lịch sử của nó quá nhiều.”

12 tiếng trước trận chung kết định mệnh, có tới 1611 người thích bài báo của Phillips và 170 bình luận về bài báo, một con số rất lớn nếu bạn biết rằng Slate là một tạp chí văn hóa và chính trị của Mỹ, một đất nước không cuồng nhiệt với bóng đá. Lật trang Thể thao của New York Times những ngày này, bạn vẫn chỉ thấy toàn… bóng rổ.

Brian Phillips, một fan nhiệt thành nhất của bóng đá tổng lực Hà Lan đã quay mặt lại với đội bóng mà anh yêu. Không quá khó hiểu đâu nếu bạn biết rằng ngay cả chính huyền thoại bóng đá Hà Lan Johan Cruyff cũng đã làm như thế khi công khai tuyên bố: “Tôi sẽ rất vui nếu Tây Ban Nha vô địch. Là người Hà Lan nhưng tôi sẽ bảo vệ lối chơi của Tây Ban Nha.”

Cũng dễ hiểu thôi, người ta “quay lưng, quay mặt” bởi Hà Lan đã không còn giữ được bản sắc bóng đá tấn công đầy hiến dâng của mình nữa. Ngược lại, Tây Ban Nha bây giờ mới lại là đội bóng kế thừa truyền thống ấy của chính người Hà Lan.

Cái đèm đẹp và cái đẹp

Bóng đá tổng lực (total football) của Hà Lan ngày xưa ấy đâu rồi? Hãy nghe những hoài niệm về nó: “Bóng đá tổng lực là thứ bóng đá mãnh liệt và tự do nhất, các cầu thủ hoán đổi vị trí khắp sân, chạy vào các khoảng trống, toàn bộ đội hình được tái tổ chức nhanh và thích nghi liên tục như những người đang bay trên sân cỏ. Kết hợp với một hàng thủ luôn dâng rất cao để hạn chế không gian và bẫy việt vị đối phương, bóng đá tổng lực tạo ra một phong cách tấn công không ngừng nghỉ, gây phấn khích tột cùng cho người xem.”

Còn đây là thứ bóng đá tiki-taka mà người Tây Ban Nha đang chơi: “chuyền bóng liên tục, kiên nhẫn cầm bóng để kiến tạo lối chơi, liên tục gây sức ép lên hàng thủ đối phương.”

Không hoàn toàn là bóng đá tổng lực nhưng tiki-taka là lối chơi gần nhất với bóng đá tổng lực trong thời hiện đại, gen bóng đá Hà Lan đã chuyển sang Tây Ban Nha sau 8 năm cầm quyền của Cruyff ở Barcelona, CLB góp mặt tới 7 cầu thủ trong đội hình Tây Ban Nha trận Bán kết vừa rồi.

Thánh Johan nói trước trận chung kết: “Tây Ban Nha là phiên bản của Barca, là thông điệp tuyệt vời nhất của bóng đá. Giờ mọi đội bóng đều muốn giống như Tây Ban Nha.” Còn HLV Argentina huyền thoại phát biểu thậm chí còn ngay trước khi World Cup diễn ra: “Tây Ban Nha là đội bóng gần nhất với cái đẹp.”

So với Tây Ban Nha, Hà Lan giờ đây chỉ còn là cái đèm đẹp, chỉ thấy những khoảnh khắc loé sáng chết người chứ không còn ánh mặt trời lung linh như ngày nào. Ở một nơi nào khác, cổ động viên sẽ quan tâm tới chiến thắng cho dù lối chơi có thế nào đi nữa. Ở Hà Lan lại khác. Đừng quên triết lý mà Cruyff đã ghi dấu lên Hà Lan: “Thà thua 9-10 còn hơn thắng 1-0” và “không có huy chương nào đáng được vinh danh bằng lối chơi đẹp của đội bóng.”

“Cái đèm đẹp đang giết chết cái đẹp”, nhà thơ Trần Dần nói vậy. Điều ấy đúng với đội Hà Lan. Cái đẹp của quá khứ không mang tới cho Hà Lan chiến thắng cuối cùng ở sân chơi World Cup, nhưng lối đá tinh quái hiện nay đang giúp họ thắng liên tục và có cơ hội lần đầu đăng quang. Cái đèm đẹp đang được đội bóng của HLV Bert van Marwijk biện minh cho sự hi sinh cái đẹp.

Vượt qua lịch sử bằng lịch sử

Vậy nên, trận chung kết đêm nay ở Nam Phi sẽ mang tính định mệnh, đó không chỉ là trận đấu giữa hai anh chàng “học tài thi phận” Hà Lan và Tây Ban Nha mà còn là cuộc đấu giữa Hà Lan và lịch sử của chính nó.

Nếu thua bằng lối chơi phản công tinh quái, Hà Lan sẽ mang tiếng là kẻ thất trận bởi “nhút nhát” không dám “dâng hiến” như cha anh họ từng thể hiện. Còn nếu thắng bằng lối chơi rình rập ấy trước một Tây Ban Nha rực lửa tấn công, trớ trêu thay, Hà Lan lại đang vô nghĩa hóa và phủ nhận chính bản sắc cha anh họ, bởi Tây Ban Nha đang là hiện thân của bản sắc Hà Lan trong quá khứ.

Hà Lan chỉ có một con đường mà thôi, đó là thắng cách biệt Tây Ban Nha bằng thứ bóng đá tấn công đích thực. Điều ấy không dễ xảy ra trong một trận chung kết mà người Hà Lan buộc phải toan tính, càng không dễ trước một Tây Ban Nha quá mạnh với sự hẫu thuẫn của lời nguyền “thầy” bạch tuộc Paul.

Không dễ nhưng người hâm mộ Hà Lan vẫn tin, họ sẽ không ủng hộ Tây Ban Nha như lời khuyên cực đoan của tác giả Brian Phillips, họ sẽ ủng hộ Hà Lan chiến thắng đối thủ bằng cách chiến thắng chính bản thân mình, ủng hộ Hà Lan thoát khỏi bóng ma thành tích đen đủi ở World Cup trong quá khứ bằng chính quá khứ tấn công tổng lực chói sáng của họ.

Hà Lan phải vượt qua lịch sử bằng chính lịch sử. Còn nếu Hà Lan thua, cũng đừng quá buồn bởi lịch sử của họ đã thắng.

Khánh Duy